vanban.org

Bản án 102/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Nguyễn Thị Thùy D đối với anh Trần Bá D1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Bá D1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dung - Duy"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân

2. Ông Lê Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: bà Đàm Nguyên Phượng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Võ Minh Mẫn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1988 (có đơn vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 10, ấp Phước H, xã Phước V, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: anh Trần Bá D1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 10, ấp Phước H, xã Phước V, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh.

NỘI D VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/01/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Trần Bá D1 chung sống với nhau từ năm 2005. Năm 2009 anh chị đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước V, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng anh chị ly thân từ năm 2016 cho đến nay, anh D1 làm việc tại Đồng Nai, thỉnh thoảng có về thăm con. Sau khi chị nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, chị có gọi cho anh D1 và thông báo cho anh D1 biết, anh D1 nói Tòa án giải quyết theo quy định, anh không về được. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh D1.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Ngọc Tuyết Nh, sinh ngày 30/10/2005. Con có nguyện vọng sống cùng mẹ nên chị yêu cầu được nuôi con, không yêu anh D1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết, chị xác định vợ chồng không có nợ chung.

Anh Trần Bá D1 không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội D, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Đương sự là nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố dụng dân sự 2015.

- Về nội D: căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị D đối với anh D1. Về con chung: giao cháu Như cho chị D nuôi dưỡng, anh D1 không cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung xác định không có nên không đặt ra giải quyết. Chị D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Trần Bá D1 không đến tòa án. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D1. Riêng chị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D.

Về nội D vụ án:

Về hôn nhân: anh chị tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2009 nên hôn nhân giữa chị D và anh D1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, 10, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Chị D trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tình cảm không còn. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh D1 nếu có phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Tuy nhiên, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử anh D1 không đến Tòa án, không thể hiện ý kiến về việc chị D yêu cầu ly hôn. Do đó, xem như anh D1 không muốn níu kéo quan hệ hôn nhân với chị D, theo quy định Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ. Như vậy, xác định vợ chồng anh chị có mâu thuẫn dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

Về con chung: các con chung hiện đang sống với chị D và cũng có nguyện vọng sống với mẹ nên xét thấy cần giao con chung là Trần Ngọc Tuyết Như, sinh ngày 30/10/2005 cho chị D trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: chị D không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Anh xác định vợ chồng không nợ ai.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Nguyễn Thị Thùy D đối với anh Trần Bá D1.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Bá D1.

Về con chung: giao con chung là Trần Ngọc Tuyết Nh, sinh ngày 30/10/2005 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: chị D không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, anh trình bày vợ chồng không nợ ai.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0017448 ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ