- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Anh nguyễn Văn S, chị Lê Hồng V tranh chấp hụi, vay tài sản với bà Nguyễn Hồng Đ, ông Phương Văn U"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V về việc yêu cầu bà Nguyễn Hồng Đ và ông Phương Văn U phải trả cho ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V số tiền 30.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2021/DS-ST Ngày 24 - 6 - 2021 V/v tranh chấp hợp đồng hụi và vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Trong các ngày 24 tháng 3 và 24 tháng 6 năm 2021, tại trụ S Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 546/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng hụi và vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 (có mặt)
2. Bà Lê Hồng V, sinh năm 1978 (có mặt)
Cùng cư trú: Ấp GH, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Phương Văn U, sinh năm 1966 (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1967
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Hồng Đ là anh Phương Văn D, sinh năm 1996 (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/01/2021- có mặt).
Cùng cư trú: Ấp GH, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Hồng V, sinh năm 1978 (có mặt)
2. Bà Tô Thị Bé U1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
3. Bà Lâm Bé S1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
4. Ông Hà Thanh T, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp GH, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V trình bày: Ông S và bà V có làm đầu thảo hụi, bà Đ và ông U có tham gia hụi, đã hốt hụi và đóng hụi chết còn nợ lại, cụ thể các dây hụi như sau:
+ Dây hụi mở ngày 25/01/2018 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 32 chưng, bà Đ, ông U tham gia 3 chưng, hụi mãn vào tháng 8/2020 âm lịch, nợ lại hai tháng hụi chết là 6.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 25/01/2018 âm lịch, hụi 500.000 đồng, tổng 37 chưng, bà Đ, ông U tham gia 3 chưng, hụi mãn vào tháng 01/2021 âm lịch, nợ lại 7 tháng hụi chết là 10.500.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 26/4/2018 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 32 chưng, bà Đ, ông U tham gia 3 chưng, hụi mãn vào tháng 11/2020 âm lịch, nợ lại năm tháng hụi chết là 15.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 27/01/2019 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 29 chưng, bà Đ, ông U tham gia 3 chưng, mãn hụi vào tháng ngày 27/4/2021 âm lịch, tính đến mãn 11 lần hụi là 33.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 12/3/2019 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 31 chưng, bà Đ, ông U tham gia 3 chưng, hụi đến tháng 8/2021 âm lịch mới mãn, đóng hụi chết đến tháng 5/2021 nợ 11 tháng là 33.000.000 đồng, tính đến mãn là 14 lần hụi là 42.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 10/4/2019 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 31 chưng, bà Đ, ông U tham gia 4 chưng, hụi đến tháng 9/2021 âm lịch mới mãn, đóng hụi chết đến tháng 5/2021 nợ 11 tháng 2 chưng là 22.000.000 đồng, tính đến mãn là 15 lần hụi là 30.000.000 đồng. Hai chưng hụi bị đơn khai vào hụi giùm cho bà V và bà Bé U1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
+ Dây hụi mở ngày 15/7/2019 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 32 chưng, bà Đ, ông U tham gia 1 chưng, hụi đến tháng 12/2022 âm lịch mới mãn, đóng hụi chết đến tháng 5/2021 nợ 11 tháng là 11.000.000 đồng, tính đến mãng còn 18 hụi là 18.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 15/8/2019 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 32 chưng, bà Đ tham gia 2 chưng, hụi đến tháng 1/2022 âm lịch mới mãn, đóng hụi chết đến tháng 5/2021 nợ 11 tháng là 22.000.000 đồng, tính đến mãn còn 19 lần hụi là 38.000.000 đồng.
+ Dây hụi mở ngày 12/3/2020 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, tổng 33 chưng, bà Đ tham gia 4 chưng, hụi mãn vào tháng 10/2022 âm lịch, đã hốt 2 chưng, còn lại 2 chưng hụi sống, đóng hụi chết đến tháng 5/2021 nợ 11 tháng là 22.000.000 đồng tính đến mãng còn 28 lần hụi là 56.000.000 đồng. Đối với hai chưng hụi sống đã đóng được mỗi chưng 5.000.000 đồng, hai chưng là 10.000.000 đồng, khi mãn hụi sẽ tính toán đối trừ lại với bị đơn.
Tất cả các chưng hụi sau khi hốt hụi có đóng hụi chết đủ đến tháng 6/2020 âm lịch thì ngưng cho đến nay. Bà Đ đi BD làm từ ngày 02/7/2020 âm lịch cho đến nay. Các lần hốt hụi không nhớ cụ thể ngày tháng năm nào, lần khui hụi thứ mấy. Tổng nợ hụi chết tính đến tháng 5/2021 là 174.500.000 đồng.
Ngoài ra vào tháng 3/2020 bà Đ có vay của ông bà số tiền 20.000.000 đồng, có trả 4.000.000 đồng, nợ lại 16.000.000 đồng.
Tổng nợ tiền hụi và tiền mượn tính đến tháng 01/2021 âm lịch là 190.500.000 đồng, ông S bà V yêu cầu bà Đ, ông U phải trả cho vợ chồng ông bà. Phần hụi còn lại từ tháng 5/2021 chưa khui, ông bà chưa lắp hụi sẽ thỏa thuận với bà Đ, ông U, nếu không thỏa thuận được sẽ khởi kiện sau. Trong giấy hụi ghi tên bà Đ (chị năm U), các lần khui hụi và đóng hụi là bà Đ tham gia khui hụi và đóng hụi. Việc mượn tiền cũng do bà Đ trực tiếp mượn. Do bà Đ tham gia hụi và mượn tiền là dùng để xây nhà, dùng chi phí sinh hoạt trong gia đình nên vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu ông U cùng có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông bà.
* Đại diện bị đơn bà Nguyễn Hồng Đ trình bày:
- Về phần hụi: Bà Đ có tham gia hụi do ông S và bà V làm chủ theo như toàn bộ phần trình bày của ông S, bà V là đúng. Bà Đ đóng hụi đến hết tháng 6/2020 âm lịch, từ ngày 02/7/2020 âm lịch đi Bình Dương làm cho đến nay. Tổng cộng tính từ tháng 7/2020 âm lịch đến tháng 05/2021 âm lịch bà Đ còn nợ tất cả các chưng hụi qua tính toán là 174.500.000 đồng là đúng.
Ngoài ra vào ngày 10/12/2019 âm lịch vay 10.000.000 đồng, lãi suất mỗi tháng 600.000 đồng, đóng lãi từ khi vay đến hết tháng 6/2020 âm lịch số tiền đóng 7 tháng là 4.200.000 đồng. Vào ngày 12/02/2020 âm lịch vay 10.000.000 đồng, lãi suất mỗi tháng 750.000 đồng, đóng lãi đến hết tháng 6/2020 âm lịch số tiền đóng 4 tháng là 3.750.000 đồng, có trả 4.000.000 đồng, nợ lại 16.000.000 đồng. Lãi suất đã đóng cho nguyên đơn thì bà Đ yêu cầu nguyên đơn giảm ½. Tổng tiền hụi và tiền mượn sau khi đối trừ ½ tiền lãi đã đóng 3.975.000 đồng còn nợ số tiền 186.525.000 đồng, bà Đ đồng ý trả cho ông S, bà V nhưng nay nợ nhiều người nên không có khả năng trả nợ một lần.
Tiền hụi bà Đ tham gia hụi của ông S và bà V khi mới tham gia dùng chi phí sinh hoạt trong gia đình, cố đất của người khác và đóng hụi đã hốt. Ông U và bà Đ hiện nay vẫn còn là vợ chồng, thời điểm bà Đ tham gia hụi ông U sống chung biết việc bà Điêp chơi hụi nhưng không biết cụ thể là bao nhiêu chưng, ông U cũng đồng ý trả nợ cho ông S và bà V nhưng không có khả năng trả nợ.
* Ông Phương Văn U trình bày: Việc giao dịch hụi giữa bà Đ với ông S, bà V ông không biết và xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tô Thị Bé U1 trình bày: Trước đây bà Đ có vô hụi của ông S làm chủ mở ngày 10/4/2019, hụi 1.000.000 đồng, bà Đ có vào nhiều chưng, có để lại cho bà một chưng, hàng tháng bà gửi tiền cho bà Đ đóng cho ông S. Sau đó bà Đ hốt hụi đưa lại cho bà (số tiền bao nhiêu không nhớ). Sau khi hốt hụi bà đóng hụi đến nay là 25 lần còn lại 6 lần là mãn hụi, bà vẫn đồng ý đóng hụi tiếp cho ông S cho đến khi hụi mãn. Tất cả các lần khui hụi, hốt hụi, bà Đ tham gia trực tiếp với ông S vì danh sách hụi ghi tên Đ, U. Bà Bé U1 yêu cầu được vắng mặt.
- Bà Lâm Bé S1 trình bày: Trước đây vào năm 2020 bà Đ có cho bà mượn số tiền 5.000.000 đồng, số tiền này là tiền của bà Đ hay tiền gì bà không biết, từ trước đến nay bà không liên quan đến việc chơi hụi của ông S, bà V. Có lần anh Dương có kêu bà đóng số tiền hụi giùm cho ông S là 1.000.000 đồng. Nay bà không liên quan đến vụ án nên xin vắng mặt, còn tiền mượn bà và bà Đ tự giải quyết.
- Ông Hà Thanh T trình bày: Ông không tham gia hụi của ông S làm chủ. Do không liên quan nên yêu cầu được vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Phương Văn U, bà Tô Thị Bé U1, bà Lâm Bé S1, ông Hà Thanh T có đơn xin vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Đối với việc tranh chấp hợp đồng hụi thì thấy rằng: Bà Đ và ông U là hụi viên tham gia giao dịch hụi do anh S, chị V làm chủ đầu thảo là thực tế có xảy ra, được các bên đương sự trình bày và thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự khai trong các hụi ông S, bà V khởi kiện, bà Đ có tham gia hụi giùm cho bà V, bà Bé U1, bà Bé S1, ông T. Tuy nhiên tại phiên toà ông S và bà V xác định không yêu cầu toà án giải quyết đối với hai chưng hụi bà Đ tham gia giùm cho bà V và bà Bé U1 trong dây hụi mở ngày 10/4/2019 số tiền tính đến mãn hụi là 30.000.000 đồng. Đối với dây hụi bà Đ tham gia giùm cho bà Bé S1 và ông T thì chỉ nghe nói tham gia giùm nhưng người đứng tên trong danh sách hụi là bà Đ, nay yêu cầu bà Đ, ông U phải thực hiện việc đóng huị chết cho ông bà. Xét thấy, việc nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết hai chưng hụi của bà V và bà Bé U1 là quyền tự định đoạt của đương sự nên căn cứ vào Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu này của ông S, bà V. Đối với việc bị đơn xác định tham gia hụi giùm cho bà Bé S1 và ông T thì không có văn bản thoả thuận giữa các bên đương sự cũng như không được bà Bé S1 và ông T thừa nhận. Mặt khác trong danh sách hụi không có tên hụi viên là Bé S1 và T mà chỉ ghi tên bà Đ, ông U. Do đó, không có căn cứ xác định việc tham gia hụi giùm mà chỉ có căn cứ xác định bà Đ, ông U là hụi viên tham gia giao dịch hụi với chủ hụi là ông S, bà V.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Sau khi hốt hụi thì bà Đ và ông U đóng lại hụi chết cho đến 6/2020 âl thì vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, không đóng hụi chết hàng tháng cho ông S, bà V, làm cho ông S, bà V phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bà Đ, ông U nên bà Đ, ông U phải có nghĩa vụ trả lại cho ông S, bà V các lần ông S, bà V đã thực hiện góp hụi thay cho bà Đ, ông U. Tuy nhiên, việc tranh chấp các dây hụi trên thì có dây đã kết thúc hợp đồng và chưa kết thúc hợp đồng nên việc tính toán, điều chỉnh lãi suất theo quy định pháp luật là khác nhau. Đối với dây hụi kết thúc hợp đồng, ông S, bà V thực hiện thay nghĩa vụ cho bà Đ, ông U cụ thể như sau: Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 25/01/2018 âm lịch, thự hiện thay 02 lần bằng 6.000.000 đồng. Hụi 500.000 đồng mở ngày 25/01/2018 âm lịch thực hiện thay 07 lần bằng 10.500.000 đồng. Hụi 1.000.000 đồng mở ngày 26/4/2018 âm lịch, thực hiện thay 05 lần bằng 15.000.000 đồng. Hụi 1.000.000 đồng mở ngày 27/01/2019 âm lịch, thực hiện thay 11 lần bằng 33.000.000 đồng. Xét thấy, anh S, chị V đã thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho các hụi viên khác cho đến khi kết thúc hợp đồng với vai trò của người bảo lãnh nên bà Đ, ông U phải hoàn trả lại cho anh S, chị V tổng ba dây hụi đã mãn nêu trên số tiền 64.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với các dây hụi còn lại đến nay chưa kết thúc hợp đồng và bà Đ đồng ý trả tiền hụi chết lại cho ông S, bà V. Tuy nhiên, trong quá trình bà Đ, ông U tham gia hụi đã trả lãi suất vượt mU lãi suất theo quy định của pháp luật, lẽ ra cần điều chỉnh cho đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên Toà ông S và bà V trình bày do thời gian mở hụi đã lâu nên ông bà không nhớ cụ thể số tiền bà Đ, ông U hốt được nên chỉ yêu cầu bà Đ và ông U trả số tiền mà ông bà đã đóng hụi thay đến ngày khui hụi gần nhất (ngày xét xử sơ thẩm), phần hụi ông bà chưa đóng hụi thay (chưa khui) sẽ yêu cầu sau và được đại diện bị đơn đồng ý. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự cũng như phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Như vậy, bà Đ, ông U ngưng đóng hụi từ tháng 6/2020 đến tháng 5/2021, các dây hụi ông S, bà V thực hiện nghĩa vụ thay cho bà Đ, ông U cụ thể như sau: Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 12/3/2019 thực hiện thay 11 lần x 1.000.000 đồng x 3 chưng =33.000.000 đồng. Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 10/4/2019 thực hiện thay 11 lần x 1.000.000 đồng x 2 chưng =22.000.000 đồng. Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 15/7/2019 thực hiện thay 11 lần x 1.000.000 đồng x 01 chưng =11.000.000 đồng. Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 15/8/2019 thực hiện thay 11 lần x 1.000.000 đồng x 02 chưng =22.000.000 đồng. Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 12/3/2020 thực hiện thay 11 lần x 1.000.000 đồng x 02 chưng =22.000.000 đồng. Tổng số tiền thực hiện nghĩa vụ thay là 110.000.000 đồng.
Đối với khoản tiền vay thì thấy rằng: Ông S, bà V khởi kiện bà Đ, ông U yêu cầu trả số tiền vốn vay 16.000.000 đồng được bà Đ thừa nhận và đồng ý trả nợ. Do đó, yêu cầu của ông S, bà V là có cơ S được chấp nhận. Đối với lãi suất đã đóng cho nguyên đơn thì tại phiên Tòa nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đ thỏa thuận chia đôi và trừ vào vốn. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Như vậy, tổng tiền hụi và tiền vay bà Đ phải trả cho ông S, bà V là 186.525.000 đồng.
Đối với việc ông S, bà V yêu cầu ông U có trách nhiệm cùng với bà Đ trả cho ông bà số tiền trên thì thấy rằng: Ông S, bà V xác định các dây hụi và nợ tiền vay do bà Đ trực tiếp giao dịch với ông bà nhưng ông U đều biết. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Đ thừa nhận quá trình bà Đ tham gia hụi của ông S bà V, ông U cũng biết việc bà Đ tham gia hụi của ông S, bà V. Do bà Đ tham gia hụi và vay tiền của ông S, bà V còn trong thời kỳ hôn nhân của bà Đ, ông U và việc bà Đ tham gia hụi, vay tiền cũng dùng cho việc sinh hoạt trong gia đình và chi phí chung cho vợ chồng. Do đó buộc ông U phải cùng có trách nhiệm với bà Đ trả cho ông S, bà V số tiền hụi, vay nêu trên là phù hợp.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Đ và ông U phải chịu theo quy định của pháp luật. Ông S, bà V không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 ; Điều 244 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 463, 466, 468 và 471 của Bộ luật dân sự. Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mU thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V về việc yêu cầu bà Nguyễn Hồng Đ và ông Phương Văn U phải trả cho ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V. Buộc bà Nguyễn Hồng Đ và ông Phương Văn U phải trả cho ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V tổng số tiền hụi và vay là 186.525.000 đồng (một trăm tám mươi S1 triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày ông S, bà V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đ, ông U không chịu trả số tiền trên, thì hàng tháng bà Đ, ông U còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn S và bà Lê Hồng V 1.544.000 đồng (một triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0011674 ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Bà Nguyễn Hồng Đ và ông Phương Văn U phải chịu 9.326.250 đồng (chín triệu ba trăm hai mươi S1 nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Biện Thị Nhung |