- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 102/2021/DS-ST Ngày: 22-9-2021 V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C,TỈNH AN GIANG
Với Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn C ng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Thụy
.
2. Bà Phan Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thúy Hằng – Th ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Thanh Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 395/2021/QĐST - DS ngày 09 tháng 8 năm 2021 giữa các đ ơng sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N;
Địa chỉ: số 02 Láng Hạ, ph ờng Th Công, quận Ba Đình, Th phố Hà Nội.
Ng ời đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn Th – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Ng ời đại diện theo ủy quyền của ông Th: Ông Nguyễn Hữu P - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang.
Ng ời đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Nguyễn Xuân T - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
2. Bị đơn: ông Phạm Văn D, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Th T1, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Bà Dƣơng Thị Đoàn K, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Cùng ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG V ÁN
Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai đại diện theo ủy quyền Ngân hàng N trình bày, ngày 06/9/2018 ông D và Ngân hàng N chi nhánh C, An Giang ký hợp đồng tín dụng số 134/LĐA/2018/HĐTD vay số tiền 50.000.000đ, mục đích vay mua nuôi bò, thời hạn vay 24 tháng. Ngày giải ngân 07/9/2018, hạn trả cuối cùng ngày 06/9/2020. Sau khi vay, ông D có trả lãi cho Ngân hàng đến ngày 07/9/2019 với số tiền 5.264.386đ thì ng ng không đóng lãi cho đến nay.
Để bảo đảm số tiền vay, ông D đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 98/LĐA/2016/HĐTC ngày 15/8/2016 Quyền sử dụng đất số CH03364 ngày 09/6/2014 diện tích 1.751m2 thuộc thửa đất số 158, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã Long Điền A, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB741745 của UBND huyện C cấp ngày 27.9.2010 cho ông D.
Nay Ngân hàng N Chi nhánh C, An Giang yêu cầu ông Phạm Văn D trả số tiền 50.000.000đ và lãi từ sau ngày khởi kiện cho đến khi trả nợ xong. Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 98/LĐA/2016/HĐTC ngày 15/8/2016 để bảo đảm việc thi hành án.
Bị đơn ông Phạm Văn D trình bày, thống nhất với lời trình bày của đại diện Ngân hàng, ông còn nợ Ngân hàng số vốn gốc 50.000.000 đồng và lãi phát sinh. Nay ông đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền trên và lãi đến khi thanh T1 dứt nợ cho Ngân hàng.
Khi vay Ngân hàng, ông đã thế chấp cho Ngân hàng diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BO 572892, số vào sổ CH03364 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông ngày 09/06/2014; diện tích 1.751m2, thửa đất số 158, tờ bản đồ số 52, tọa lạc xã Long Điền A, huyện C, tỉnh An Giang. Hiện tại phần diện tích đất này ông đã cố cho vợ chồng ông Nguyễn Th T1 và bà D ơng Thị Đoàn K với giá 80.000.000 đồng, hiện bà K, ông T1 trồng mít đ ợc khoảng 02 năm tuổi. Tr ớc đây, đất này ông trồng lúa, sau khi cố thì ông T1 bà K trồng múc đất trồng mít, vật t chi phí là bao nhiêu ông không rõ. Ông đồng ý để Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà D ơng Thị Đoàn K trình bày, bà và ông Nguyễn Th T1 là vợ chồng, vào ngày 01/8/2019 (âl) vợ chồng bà có nhận cố diện tích 1.752m2 do ông Phạm Văn D đứng tên quyền sử dụng đất. Nay yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng cố đất giữa vợ chồng bà với ông Phạm Văn D là vô hiệu, vợ chồng bà đồng ý trả lại đất cho ông D và ông D phải trả lại cho vợ chồng bà 90.000.000 đồng, trong đó 80.000.000 đồng là tiền cố đất, 10.000.000 đồng là chi phí vợ chồng bà đã múc đất, trồng khoảng 300 cây mít, vì tr ớc đây đất ông D là đất ruộng, vợ chồng bà trồng mít đến nay ch a thu hoạch.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Xuân T có đơn xin vắng mặt và v n giữ nguyên yêu cầu.
Ông Phạm Văn D, đã đ ợc Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa, nh ng vắng mặt không lý do.
Ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Th ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đ ơng sự kể từ khi thụ lý vụ án đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật. Về ý kiến giải quyết:
Công nhận hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, An Giang với ông Phạm Văn D.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N – Chi nhánh C.
Buộc ông Phạm Văn D có nghĩa vụ trả Ngân hàng N chi nhánh C, An Giang số tiền vốn 50.000.000đ, lãi tiếp theo hợp đồng tín dụng đã ký K.
Ngân hàng N – Chi nhánh C đ ợc quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 22/8/2019 giữa ông Phạm Văn D với ông Nguyễn Th T1 và bà D ơng Thị Đoàn K vô hiệu.
Ông T1, bà K có nghĩa vụ giao trả lại diện tích 1.751m2.
Ông Phạm Văn D có nghĩa vụ trả cho ông T1, bà K số tiền 80.000.000đ.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]- Về hình thức: Việc tranh chấp giữa các đ ơng sự về Hợp đồng tín dụng, chủ thể một bên là Ngân hàng và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Xuân T, ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K có đơn xin vắng mặt. Ông Phạm Văn D đã đ ợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, nh ng ông vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân T, ông Phạm Văn D, ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn là có căn cứ.
[2]- Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng đ ợc ký K giữa Ngân hàng N với ông Phạm Văn D đ ợc xác lập trên cở sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, đ ợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[2.1]- Căn cứ theo hợp đồng nêu trên, thì trong quá trình thực hiện hợp đồng ông D đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của ng ời vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký K. Việc Ngân hàng khởi kiện ông D yêu cầu phải thanh T1 vốn, lãi còn nợ cho Ngân hàng là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc ông Phạm Văn D phải có nghĩa vụ thanh T1 cho phía Ngân hàng tiền vốn và lãi suất phát sinh tính đến ngày xét xử 21/9/2021 (có bảng lãi kèm theo) là 63.292.569đ, trong đó nợ vốn gốc là 50.000.000đ, lãi là 13.292.569đ.
[2.2]- Về lãi suất từ sau thời điểm xét xử, tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn có yêu cầu bên vay là ông D phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký K cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu trên là không trái với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Buộc ông Phạm Văn D phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký K kể từ ngày 22/9/2021 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng.
[2.3]- Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Ngân hàng yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm thi hành án. Hội đồng xét xử thấy, hợp đồng thế chấp tài sản số 198/LĐA/2016/HĐTC ký K ngày 15/8/2016, hợp đồng đ ợc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định nên hợp đồng có hiệu lực cần đ ợc duy trì để đảm bảo cho việc thi hành án.
[2.4]- Đối với hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn D với ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K, hai bên đã thỏa thuận việc cầm cố đất trong thời hạn 07 năm với giá 80.000.000đ, có lập Th văn bản ngày 01/8/2019. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là hợp đồng trái pháp luật, không đ ợc pháp luật thừa nhận và điều chỉnh. Bên cạnh đó, đây là tài sản ông D đang thế chấp cho Ngân hàng, nh ng ông lại đem đi cầm cố cho ông T1, bà K là vi phạm thỏa thuận đã ký K với Ngân hàng. Mặt khác, đây là hợp đồng ngay từ đầu đã trái pháp luật, trong tờ thỏa thuận, hai bên cũng không đề cập đến việc bồi hoàn tiền đào m ơng, trồng cây, nên chi phí đào m ơng, trồng cây 10.000.000đ thì đ ơng sự tự chịu chi phí này. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng cầm cố ngày 01/8/2019 giữa ông D với vợ chồng ông T1, bà K vô hiệu, hậu quả của giao dịch này là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ông D trả lại cho bà K, ông T1 số tiền cố đất 80.000.000đ, ông T1, bà K giao lại cho ông D diện tích 1.751m2.
Không chấp nhận yêu cầu của ông T1, bà K yêu cầu ông D trả 10.000.000đ chi phí đào m ơng, trồng cây.
[3]- Đối với chi phí thẩm định tại chỗ 500.000đ, do đ ợc chấp nhận yêu cầu, nên Ngân hàng không phải chịu chi phí này (Ngân hàng đã nộp xong), ông D phải hoàn chi phí này cho Ngân hàng.
[4]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Đ ơng sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH
- Căn cứ: Các Điều Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 122, 123, 131, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc ông Phạm Văn D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N tiền vốn là 50.000.000đ (Năm m ơi triệu đồng) và lãi 13.292.569đ (M ời ba triệu, hai trăm chín m ơi hai ngàn, năm trăm sáu m ơi chín đồng), tổng cộng 63.292.569đ (Sáu m ơi ba triệu, hai trăm chín m ơi hai ngàn, năm trăm sáu m ơi chín đồng).
Tuyên hợp đồng cầm cố đất (Tờ thỏa thuận cố đất) ngày 01/8/2019 giữa ông Phạm Văn D với ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K vô hiệu.
Ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K có nghĩa vụ giao lại cho ông D diện tích 1.751m2.
Ông Phạm Văn D giao lại cho vợ chồng ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K số tiền 80.000.000đ (Tám m ơi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K đòi ông Phạm Văn D trả 10.000.000đ, tiền chi phí đào m ơng, trồng cây.
Kể từ ngày 22/9/2021 ông Phạm Văn D phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký K số 134/LĐA/2018/HĐTD ngày 06/9/2018 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng N. Tr ờng hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N thì lãi suất mà ông Phạm Văn D phải tiếp tục thanh T1 cho Ngân hàng N theo quyết định của Tòa án cũng sẽ đ ợc điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 98/LĐA/2016/HĐTC ngày 15/8/2016 để bảo đảm việc thi hành án.
Ông Phạm Văn D phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) do Ngân hàng đã nộp xong, ông D phải hoàn chi phí này cho Ngân hàng.
Về án phí dân sự sơ thẩm, ông Phạm Văn D phải chịu 7.164.600đ (Bảy triệu, một trăm sáu m ơi bốn ngàn, sáu trăm đồng).
Ông Nguyễn Th T1, bà D ơng Thị Đoàn K phải chịu án phí 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) nh ng đ ợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009738 ngày 19/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang, ông T1, bà K còn phải nộp tiếp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N là 1.497.000đ (Một triệu, bốn trăm chín m ơi bảy ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002690 ngày 28/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.
Đ ơng sự vắng mặt đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc tống đạt hợp lệ bản án.
Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện C; -Chi cục THADS huyện C; -Các đ ơng sự; -L u. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn C ng Đức THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn C ng Đức |