- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2020/HS-ST Ngày 29-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Đinh Văn Bình.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 tại H. Nơi cư trú: Số 256 T, phường T, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Lê Thị U và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 10/4/2020; ngày 18/4/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mai D, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số 19/11 M, phường D, quận L, thành phố H; vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/4/2020, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô BKS:16M4 - 0467 đi trên đường T, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng. Khi đi đến trước cửa nhà số 130 T, H thấy cửa nhà mở, bên trong để nhiều thùng sơn và có mấy người ở trong nhà nhưng đang nằm ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp thùng sơn để lấy tiền tiêu xài. H dựng xe sát vỉa hè trước cửa nhà 130 T, đi vào nhà đến khu vực để các thùng sơn, ở chân cầu thang, cách cửa ra vào khoảng 05m, xách lấy 01 thùng sơn chống thấm nhãn H BT. PERFECT, loại 18 lít (chưa sử dụng) đem ra để ở trước cửa rồi quay lại trong nhà định lấy thêm một thùng sơn nữa. Ngay lúc này, anh Hoàng Văn U, sinh năm 1984 và Hoàng Văn P, sinh năm 1988, cùng cư trú tại: H, V, H thức dậy, phát hiện, hô hoán người dân đuổi theo H. H bỏ lại xe mô tô, chạy bộ từ đường Đào Nhuận ra đường nội bộ ký túc xá sinh viên 15 tầng, đến ngã tư thì thấy 01 thanh sắt dài 70cm và 01 rìu trên đường, H nhặt lên và cầm theo với mục đích để chống trả người đuổi theo. H chạy ra đến đường Võ Nguyên Giáp hướng ra đường Nguyễn Văn Linh, đến trước khu vực cổng Viện Y học biển thì bị lực lượng Công an bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường Kênh Dương để lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ trên tay H 01 thanh sắt và 01 chiếc rìu mà H vừa nhặt được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-ĐGTTHS ngày 09/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân định giá giá trị còn lại của 01 thùng sơn BT.PERFECT, loại chống thấm cao cấp PER23-18 lít, còn nguyên niêm phong, chưa sử dụng là 2.650.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội D trên.
Tại cơ quan điều tra, bị hại chị Nguyễn Thị Mai D khai: Chị D là chủ nhà số 130 T, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng. Hiện chị D đang thuê thợ sơn nhà. Khoảng 13 giờ ngày 09/4/2020 chị nhận được điện thoại của thợ báo việc nhà chị có người vào lấy 01 thùng sơn và đã bị cơ quan Công an bắt giữ. Sau đó, chị đã về nhà, xác nhận lại tài sản và đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Hiện chị D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường và có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H.
Tại Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 29/6/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội D bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai thanh sắt và chiếc rìu bị cáo nhặt trên đường mục đích để chống trả người đuổi theo nhưng trong quá trình bị truy bắt, bị cáo không sử dụng thanh sắt và chiếc rìu để chống trả ai.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 thanh sắt dài 70 cm và 01 chiếc rìu; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn H Mastel và số tiền 740.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Hồi 12 giờ 30’ ngày 09/4/2020, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là một thùng sơn BT.PERFECT, loại chống thấm cao cấp PER23-18 lít của chị Nguyễn Thị Mai D tại nhà số 130 T, phường K, L, H, trị giá tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy hành vi của Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền và theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị khấu trừ thu nhập. Xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên miễn việc khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 thanh sắt dài 70 cm và 01 chiếc rìu: Xét không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Mastel và số tiền 740.000 đồng xét là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 để đảm bảo thi hành án phần án phí.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Nguyễn Thị Mai D đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 thùng sơn BT.PERFECT, loại chống thấm cao cấp PER23-18 lít, chị D không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về các vấn đề khác:
Đối với xe mô tô BKS: 16M4-0467 thu giữ của Nguyễn Văn H, hiện vẫn chưa làm rõ được nguồn gốc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách ra để xử lý sau.
Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bị cáo đang thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Trừ cho bị cáo 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 9 (chín) ngày (từ ngày 10/4/2020 đến ngày 18/4/2020). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt dài 70 cm và 01 chiếc rìu.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn H Mastel; tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 đồng để đảm bảo thi hành án phần án phí, trả cho bị cáo số tiền còn lại.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 30/6/2020 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; biên lai thu tiền số 0004578 ngày 30/6/2020).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại chị Nguyễn Thị Mai D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- VKSND thành phố;
- VKSND quận Lê Chân;
- Công an quận Lê Chân;
- Phòng PV06; PC10;
- THA hình sự;
- Chi cục THADS quận Lê Chân;
Nguyễn Ngọc Hà
- Sở tư pháp;
- UBND nơi bị cáo cư trú;
- Lưu: HS, VT.
định pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mai
Đinh Văn Bình
Nguyễn Ngọc Hà
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Ninh |