vanban.org

Bản án 102/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Phan Thanh V.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS- ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh V. Xử phạt bị cáo Phan Thanh V 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Phan Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2020/HS- PT
Ngày: 27- 3- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Các hẩ h n:

Ông Sỹ Danh Đạt.

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 27 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2020/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Phan Thanh V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2019/HS- ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp.

-

có h n

:

Phan Thanh V, sinh năm 1973 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú (HKTT): Ấp X, xã Sơn Đ, thành phố B, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: Ấp Anh D, xã Tân Thành X, huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn N, sinh năm 1945 (sống) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1949 (chết); có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại (có ặt tại hiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Phan Thanh V là Luật sư Võ Tấn T1- Văn phòng Luật sư Võ Tấn T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre ( ó ặt).

- hại: Đỗ Thành T2, sinh năm 1967 ( ó ặt).

Địa chỉ: Ấp Anh D, xã Tân Thành X, huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Thanh V và ông Đỗ Thành T2 là hàng xóm với nhau, cùng mua bán tạp hóa tại chợ xã Tân Thành x, huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp.

Khoảng 17 giờ, ngày 13 tháng 6 năm 2019, do có mâu thuẫn trong việc mua bán nên giữa V và ông T2 cự cãi qua lại với nhau, sau đó V đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, V đang nằm võng trong nhà thì nhìn thấy ông T2 đi bộ ngang qua, V từ trong nhà bước ra đường, nói với ông T2: “Ông iàu ó qu hơn thua với n h u là ì?”, ông T2 trả lời: “ a là tí h lũy”, sau đó V dùng chân đạp vào người ông T2 01 (Một) cái làm ông T2 té ngã và cả hai cùng câu vật đánh với nhau bằng tay, trong lúc câu vật thì V dùng răng cắn vào gò má bên trái của ông T2 một cái gây thương tích, lúc này có anh Lê Trường G đến can ngăn. Sau đó ông Đỗ Thành T2 đến Trung tâm y tế huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp điều trị, đến ngày 24 tháng 6 năm 2019 thì ra viện. Ngày 22 tháng 7 năm 2019, ông Đỗ Thành T2 có đơn yêu cầu xử lý hình sự Phan Thanh V gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 206/TgT ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận về thương tích đối với ông Đỗ Thành T 2như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo sây sát da số lượng sẹo ít kích thước nhỏ.

- Sẹo vết thương phần mềm gò má trái lành xấu.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể: 13% (Mười ba phần trăm).

3. Kết luận khác: Tổn thương gò má trái ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Phan Thanh V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho bị hại T2 số tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo Phan Thanh V làm đơn yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật của bị hại Đỗ Thành T2, vì V cho rằng không cố ý gây thương tích và xô xát với bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân H trả lời đơn khiếu nại của bị cáo là không có căn cứ do không có tài liệu, chứng cứ, tình tiết nào khác để nghi ngờ kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp là không chính xác, không thuộc trường hợp phải trưng cầu giám định lại thương tật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường thiệt hại cho ông Đỗ Thành T2 gồm: Chi phí điều trị, chi phí đi lại, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, bù đắp tổn thất về tinh thần tổng số tiền là 12.443.000 đồng. Buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường thiệt hại về ngày công nuôi bệnh cho chị Đỗ Thị Thúy N1 số tiền là 2.400.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành án xong thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Đến ngày 03 tháng 12 năm 2019, bị cáo Phan Thanh V có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Thanh V thừa nhận vào khoảng 17 giờ, ngày 13- 6- 2019 bị cáo đã có hành vi câu vật, dùng tay đánh và dùng răng cắn vào gò má trái của bị hại Đỗ Thành T2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 13%. Bị cáo thừa nhận Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 29-11- 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo bổ sung kháng cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đỗ Thành T2 số tiền 2.000.000 đồng và trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại Đỗ Thành T2 số tiền 12.443.000 đồng, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Thúy N2 số tiền 2.400.000 đồng, tổng cộng bị cáo đã bồi thường xong 14.843.000 đồng phần trách nhiệm dân sự mà Bản án sơ thẩm đã tuyên, số tiền này bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp theo Biên lai thu số 007177 ngày 04- 02- 2020.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đỗ Thành T2 khẳng định sau khi xét xử sơ thẩm thì ông Tâm không kháng cáo, nhưng sau khi biết được bị cáo kháng cáo thì ngày 06- 12- 2019 bị hại T2 có văn bản ý kiến gửi Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu xử tăng hình phạt tù, tăng bồi thường dân sự đối với bị cáo V, đến ngày 13- 3- 2020 thì bị hại T2 tiếp tục có văn bản ý kiến (bổ sung) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo V, lý do là ngoài việc bị cáo V gây thương tích cho ông, thì bị cáo còn thường xuyên hăm dọa, chửi bới, thách thức gia đình ông. Nay tại phiên tòa, bị hại Đỗ Thành T2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phan Thanh V, giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định hành vi của bị cáo Phan Thanh V bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tiếp tục bồi thường cho bị hại Đỗ Thành T2 số tiền 12.443.000 đồng, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 2.400.000 đồng, như vậy bị cáo đã tích cực bồi thường xong phần dân sự theo quyết định của Bản án sơ thẩm, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo V từ 01 tháng tù đến 03 tháng tù. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận, vì hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm.

Tại phiên tòa, Luật sư Võ Tấn T1 phát biểu quan điểm thống nhất hành vi của bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong đó, về phần bồi thường thiệt hại thì ở quá trình điều tra bị cáo bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng, ở giai đoạn phúc thẩm bồi thường tiếp 14.843.000 đồng, đây là sự tự nguyện tích cực bồi thường của bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, gia cảnh khó khăn do phải nuôi con nhỏ, vợ thì đã chết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, tuyên án giảm nhẹ hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phần tranh luận, bị cáo Phan Thanh V không tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt tù và được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Thanh V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo ở quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 17 giờ, ngày 13- 6- 2019 bị cáo V đã có hành vi câu vật, dùng tay đánh và dùng răng cắn vào gò má trái của bị hại Đỗ Thành T2 gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại T2 tại thời điểm giám định là 13 %.

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS-ST ngày 20- 11- 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Phan Thanh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và được hưởng án treo của bị cáo Phan Thanh V, Hội đồng xét xử thấy rằng ở giai đoạn phúc thẩm bị cáo V tiếp tục bồi thường cho bị hại Đỗ Thành T2 số tiền 12.443.000 đồng và bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thị Thúy N1 số tiền là 2.400.000 đồng, tổng cộng bị cáo V đã bồi thường xong phần dân sự theo Bản án sơ thẩm đã tuyên là 14.843.000 đồng, số tiền này bị cáo tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp theo Biên lai thu số 007177 ngày 04- 02- 2020. Việc bồi thường ở giai đoạn phúc thẩm là nội dung mới phát sinh, thể hiện ý thức tích cực bồi thường của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về phần này đối với bị cáo. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên phải được xử lý nghiêm, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.

Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận và chấp nhận một phần phát biểu của Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Thanh V tại phiên tòa.

Do kháng cáo của bị cáo Phan Thanh V được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị hại Đỗ Thành T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Thúy N1 có quyền đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp để yêu cầu thi hành án số tiền 14.843.000 đồng mà bị cáo Phan Thanh V đã nộp theo Biên lai thu số 007177 ngày 04- 02- 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Phan Thanh V.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS- ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh V.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh V 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Ghi nhận việc bị cáo Phan Thanh V bồi thường cho bị hại Đỗ Thành T2 số tiền 12.443.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm bốn mươi ba ngàn đồng) và bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Thúy N1 số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 007177 ngày 04-02- 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp để đảm bảo thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Thanh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ