- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị Thùy L khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Thanh S"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:102/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Mừng;
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2020/TLST-HNGĐ ngày 06
tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 168/2020/QĐXX-ST ngày 13 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy L, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: số 394,
tổ 10, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn
Văn P; địa chỉ cư trú: Số 477A/24 Quản Cơ Thành, phường B, thành phố L, tỉnh
An Giang là Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn P và thuộc Đoàn luật
sư An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: ấp T, xã
M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Võ Thị Thùy L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thanh S do quen biết tiến tới hôn nhân và chung sống với
nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M vào ngày
19/10/2009, thời gian gần 05 năm nay vợ chồng xảy ra bất hòa, bất đồng quan điểm với nhau, hay cự cãi, không hợp tính tình, chồng ăn chơi cờ bạc. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.
Về con chung: 01 con chung tên là Nguyễn Phúc D, sinh ngày 10/7/2009.
Hiện cháu D, bà L đang nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và về nợ chung: Không có.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Thị Thùy
L là Luật sư Nguyễn Văn P đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Võ Thị Thùy L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S; về con chung, cho bà Võ Thị Thùy L được tiếp tục nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung, không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được
tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Võ Thị Thùy L khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông
Nguyễn Thanh S. Ông S có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Nguyễn Thanh S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần
thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Thùy L và ông
Nguyễn Thanh S là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà mâu thuẫn, theo nguyên đơn trình bày là do vợ chồng xảy ra bất hòa, bất đồng quan điểm với nhau, hay cự cãi, không hợp tính tình, chồng ăn chơi cờ bạc. Xét thấy, trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà không được hạnh phúc đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.
Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị Thùy L xác định vợ chồng có 01
con chung là Nguyễn Phúc D, sinh ngày 10/7/2009. Hiện cháu D, bà L đang nuôi dưỡng, khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy con chung là cháu Nguyễn Phúc D hiện còn nhỏ và bà L đang nuôi dưỡng, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu, kết quả thể hiện “nếu ba và mẹ không còn sống chung
với nhau nữa thì nguyện vọng muốn được chung sống với mẹ”. Dó đó Hội đồng
xét xử chấp nhận bà L được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật
hôn nhân và gia đình c ng như nguyện vọng của con. Về việc cấp dưỡng nuôi
con: do bà L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án
không xét đến.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L.
1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thùy L ly hôn với ông Nguyễn
Thanh S. Giấy chứng nhận kết hôn số 227 ngày 19/10/2009 do Ủy ban nhân dân
xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.
2) Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị Thùy L được tiếp tục nuôi con
chung là Nguyễn Phúc D, sinh ngày 10/7/2009; ông S không phải cấp dưỡng
nuôi con.
Bà L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông S
trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3) Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xét đến.
4) Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
5) Về án phí: Bà Võ Thị Thùy L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là
300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp
án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số
0008172 ngày 05/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang. Bà Võ Thị Thùy L đã nộp đủ.
6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |