- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản giữa bà Đỗ Thị N, ông Dương Văn D với bà Hoàng Thị T"
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2020/DS-PT Ngày 26 – 8 – 2020 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong – Thư ý T a án nhân dân t nh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ lý số: 82/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2020/DS-ST ngày 06/5/2020 của T a án nhân dân huyện ĐT bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2020/QĐ-PT ngày 17/7/2020; Quyết định hoãn phiên t a số: 79/2020/QĐ-HPT ngày 18/8/2020 của T a án nhân dân t nh Lâm Đồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm: 1984
Ông Dương Văn D, sinh năm: 1978
Địa ch : Xóm 7, thôn LT, xã TH, huyện LH, t nh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Cao T, sinh năm: 1972
Địa ch : Số 135 Nguyễn Công T, Phường 2, thành phố ĐL.
(Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2019).
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm: 1968
Địa ch : Thôn TH, xã TH, huyện ĐT, t nh Lâm Đồng
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phan Đình H, sinh năm: 1982
Địa ch : Thôn TH, xã TH, huyện ĐT, t nh Lâm Đồng
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D - Nguyên đơn.
(Ông có mặt; Bà T, Ông H vắng mặt).
NỘI D NG V ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D cũng như lơì trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ông Lê Cao T thì:
Vợ chồng Ông D, bà N có mở đại lý thu mua cà phê Từ ngày 14/02/2013 (dương lịch) Bà T có chốt cà phê nhân đến ngày 10/01/2014 của đại lý cà phê của vợ chồng Ông D, bà N nhiều lần hoảng 30 000 g Hình thức chốt cà phê là Bà T đến đại lý của vợ chồng Ông D, bà N chốt cà phê và vợ chồng Ông D, bà N sẽ đưa tiền trước cho Bà T, hi nào đến mùa thu hoạch cà phê thì Bà T mới giao cà phê cho vợ chồng Ông D, bà N Đến mùa Bà T có trả được cho vợ chồng Ông D, bà N 02 lần cà phê nhân, tổng cộng 5 369 g Đến ngày 19/4/2015 hai bên đã thỏa thuận tính toán chốt cà phê thì Bà T chưa giao cho vợ chồng Ông D, bà N 24 500 g cà phê nhân quy ra thành tiền Bà T c n nợ vợ chồng Ông D, bà N là 1.138.600.000 đồng Khi chốt nợ vào ngày 19/4/2015 thì hai bên có thỏa thuận và viết Hợp đồng mua bán nông sản, Ông D là người trực tiếp viết hợp đồng mua bán nông sản, Bà T có ý và ghi rõ họ tên trong hợp đồng Bà T hẹn trả trước vào ngày 30/6/2015 là 500 000 000 đồng, số c n lại sẽ trả vào ngày 20/11/2015 nhưng đến nay Bà T vẫn chưa trả cho vợ chồng Ông D, bà N đồng nào
Nay vợ chồng Ông D, bà N yêu cầu Bà T có trách nhiệm trả cho vợ chồng Ông D, bà N số tiền nợ là 1 138 600 000 đồng
Theo lời trình bày của bị đơn Bà Hoàng Thị T thì:
Do bà và vợ chồng Ông D, bà N có quen biết và làm ăn với nhau Ông D, bà N đưa tiền cho bà để bà chốt giá cà phê, hi có cà phê bà sẽ trả cho Ông D, bà N Từ ngày 14/11/2013 đến ngày 30/12/2013 hai bên có chốt số cà phê là 19 700 g Ngày 13/12/2013 bà có trả cho vợ chồng Ông D, bà N số cà phê nhân 2846,2 g, ngày 28/12/2013 bà đã trả thêm 2522,8 g Bà c n nợ vợ chồng Ông D, bà N số cà phê nhân là 14 331 g Hai bên ch chốt lại vào tờ giấy theo từng ngày bà có giao cụ thể bao nhiêu và chốt lại có ghi bà c n nợ lại 14 331 g, giấy này Ông D tự viết
Đến ngày 19/11/2014, bà có nhờ Ông Phan Đình H, trú tại: Số 78A Thôn TH, xã TH, huyện ĐT (Ông H là hàng xóm của bà) đi cân cà phê cho bà để bà trả cho vợ chồng Ông D, bà N tổng cộng là 2 800 g, Ông H có ghi số g cụ thể hi cân Vì vậy, bà c n nợ Ông D, bà N là 11 531 g cà phê nhân Ông D, bà N cho rằng hai bên đã chốt nợ và bà có ý vào hợp đồng mua bán nông sản ngày 19/4/2015 là hông đúng sự thật, bà hông hề ý bất cứ giấy tờ gì để chốt lại là bà c n nợ vợ chồng Ông D, bà N 24 500 g cà phê nhân quy ra thành tiền là 1.138.600.000 đồng
Trong quá trình c n nợ cà phê nhân của Ông D, bà N thì do làm ăn bị thua lỗ vì những người chốt giá cà phê lấy tiền từ bà hông trả cà phê nhân như đã hẹn cho bà nên bà mới hông giao cà phê c n nợ cho Ông D, bà N được Sau đó bà có gặp Ông D, bà N để thỏa thuận, bà vẫn đồng ý trả tiền nợ nhưng do hông có hả năng nên bà đề nghị trả trong v ng 03 năm Tuy nhiên, đến ngày 11/11/2018 vợ chồng Ông D, bà N đến nhà gặp gia đình bà, đi cùng Ông D, bà N c n có 04 người đàn ông lạ mặt
Vợ chồng Ông D, bà N nói với bà là xã hội đen để buộc bà phải trả nợ; vợ chồng Ông D, bà N cùng 04 người đàn ông lạ mặt bắt bà phải ý và trả đủ số cà phê ghi trên giấy là 24 500 g cà phê nhân tương đương 1 138 600 000,đồng Bà hông đồng ý ý vì số cà phê nhân bà c n nợ ch c n 11 531 g, đối với hành vi này bà đã báo Công an xã TH, ĐT vào ngày 12/11/2018 để giải quyết
Nay Ông D bà N yêu cầu bà phải trả cho Ông D bà N số tiền nợ là 1.138.600.000 đồng thì bà hông đồng ý Vì hiện nay bà ch c n nợ Ông D, bà N 11 531 g cà phê nhân, bà ch đồng ý trả 11 531 g cà phê nhân theo giá thị trường hiện nay
Đối với Hợp đồng mua bán nông sản ngày 19/4/2015 thì bà hẳng định là bà hông có ý vào hợp đồng này, chữ ý và chữ viết trong hợp đồng hông phải là của bà nhưng bà hông yêu cầu T a án giám định chữ ý và chữ viết của bà, bà yêu cầu Ông D, bà N cung cấp các giấy tờ sổ sách ghi chép giữa bà và Ông D, bà N.
Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phan Đình H thì:
Ông và Bà T là chỗ quen biết và là hàng xóm với nhau Do đó, vào buổi sáng hoảng tháng 11 năm 2014 Bà T có nhờ ông xuống nhà Bà T để cân số cà phê nhân của Bà T để trả cho Ông D, bà N Khi cân thì ông có viết vào giấy từng mã cân, sau đó đưa lại cho Bà T Thời gian đã quá lâu ông hông nhớ rõ cụ thể số g cà phê là bao nhiêu, ông ch nhớ hoảng hơn 2000 g cà phê nhân (hơn 02 tấn) Trong quá trình cân lúc đó có 04 người gồm có bà N và 03 người hác là lái xe và bốc xếp nhưng ông hông biết tên Sau hi cân bà N là người trực tiếp nhận số cà phê nhân đó, bốc xếp bốc lên xe và lái xe chở cà phê về cho bà N Là hàng xóm với nhau nên Bà T nhờ thì ông đi cân dùm cho Bà T, c n việc mua bán giữa Ông D, bà N và Bà T tiền bạc cụ thể như thế nào thì ông hông biết Nay Ông D, bà N hởi iện Bà T là việc mua bán cà phê giữa hai bên, ông hông có ý iến gì
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2019/DS-ST ngày 06/5/2020 của T a án nhân dân huyện ĐT Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn vợ chồng ông bà Dương Văn D, Đỗ Thị N.
Buộc Bà Hoàng Thị T có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông bà Dương Văn D, Đỗ Thị N số tiền nợ là 742 095 500 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu hông trăm chín mươi lăm ngàn năm trăm đồng)
Ngoài ra, T a án c n tuyên về án phí và quyền háng cáo cho các bên đương sự
Ngày 09/5/2020, nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D có đơn háng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2020/DS-ST ngày 06/5/2020 của T a án nhân dân huyện ĐT theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông bà Buộc Bà T có nghĩa vụ thanh toán cho ông bà số tiền 1 138 600 000 đồng
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D là Ông Lê Cao T vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo của nguyên đơn
Bị đơn Bà Hoàng Thị T đã được T a án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt hông có lý do.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý và của Hội đồng xét xử tại phiên t a là đúng pháp luật Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ háng cáo của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D, sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2020/DS-ST ngày 06/5/2020 của T a án nhân dân huyện ĐT.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại phiên t a hôm nay, bị đơn Bà Hoàng Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phan Đình H đã được T a án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt hông có lý do Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ
[2] Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc vợ chồng Ông D, bà N cho rằng giữa vợ chồng ông bà với Bà T có mối quan hệ làm ăn mua bán cà phê với nhau theo hình thức vợ chồng ông bà giao tiền trước cho Bà T, đến mùa thu hoạch cà phê thì Bà T giao cà phê cho vợ chồng ông bà Tuy nhiên, đến mua thu hoạch cà phê thì Bà T hông giao đủ số lượng cà phê như thỏa thuận Tính đến nay thì Bà T c n nợ vợ chồng ông bà 24 500 g cà phê nhân với số tiền 1 138 600 000 đồng theo hợp đồng mua bán nông sản ngày 19/4/2015 nên vợ chồng ông bà yêu cầu Bà T có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền trên Bị đơn bà Nguyễn Thị Toàn hông đồng ý với yêu cầu của vợ chồng Ông D, bà N và cho rằng hiện nay bà ch c n nợ vợ chồng Ông D, bà N 11 531 g cà phê nhân và ch đồng ý trả số cà phê này theo giá thị trường hiện nay nên các bên phát sinh tranh chấp Do đó, T a án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” là đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung: Xét háng cáo của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D thì thấy rằng:
Giữa nguyên đơn và bị đơn có mối quan hệ làm ăn mua bán cà phê với nhau theo hình thức Bà T ứng tiền chốt giá cà phê của vợ chồng Ông D, bà N. Sau hi chốt giá, nhận tiền thì Bà T có nghĩa vụ giao cà phê cho vợ chồng Ông D, bà N, quá trình ứng tiền chốt giá cà phê giữa hai bên diễn ra nhiều đợt là có trên thực tế và được các bên đương sự thừa nhận
Trong quá trình mua bán cà phê thì các bên tiến hành chốt lại số lượng cà phê và giá cà phê bằng “Hợp đồng mua bán nông sản” đề ngày 19/4/2015 có nội dung: “Bà T có chốt cho vợ chồng Ông D bà N số lượng cà phê nhân là 24.500kg từ ngày 14/2/2013 dương lịch và hai bên có thống nhất chốt giá theo giá thị trường từ ngày 15/3/2014 đến ngày 19/4/2015 tổng số tiền là 1.138.600.000đồng. Bà T nhất trí trả cho Ông D bà N số tiền 500.000.000đồng vào ngày 30/6/2015, số còn lại sẽ trả hết vào ngày 20/11/2015 dương lịch”, hợp đồng trên được Bà T ý xác nhận
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án tại T a án cấp sơ thẩm, Bà T cho rằng chữ ý trong hợp đồng mua bán nông sản đề ngày 19/4/2015 giữa bà và vợ chồng Ông D, bà N hông phải là chữ ý của bà và bà hông thừa nhận số nợ này nhưng Bà T lại hông yêu cầu T a án giám định chữ ý và chữ viết của bà theo quy định của pháp luật, nên cần căn cứ vào hợp đồng mua bán nông sản đề ngày 19/4/2015 giữa bà và vợ chồng Ông D, bà N để giải quyết vụ án.
Hơn nữa, Bà T cho rằng từ ngày 14/11/2013 đến ngày 30/12/2013 giữa bà và vợ chồng Ông D, bà N có chốt tổng số cà phê là 19 700 g Ngày 13/12/2013, bà đã trả cho vợ chồng Ông D, bà N số cà phê nhân 2846,2 g, ngày 28/12/2013 bà đã trả thêm 2522,8 g, ngày 19/11/2014 trả 2 800 g nên hiện nay bà ch c n nợ Ông D, bà N 11 531 g cà phê nhân và bà ch đồng ý trả cho vợ chồng Ông D, bà N số cà phê này theo giá thị trường nhưng Bà T lại hông có chứng cứ chứng minh và vợ chồng Ông D, bà N cũng hông thừa nhận
[5] Mặt hác, Bà T cho rằng vợ chồng Ông D, bà N cùng 04 người đàn ông lạ mặt đến nhà bà bắt bà phải ý và trả đủ số cà phê ghi trong hợp đồng mua bán nông sản ngày 19/4/2015 là 24 500 g cà phê nhân tương đương 1 138 600 000 đồng nhưng bà hông ý vì bà ch c n nợ 11 531 g Sự việc này bà đã báo Công an xã TH, huyện ĐT vào ngày 12/11/2018 để xử lý hành vi trên của vợ chồng Ông D, bà N, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì T a án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại Công an xã TH, huyện ĐT thì được biết hông có sự việc Bà T báo cáo với Công an xã TH, huyện Đưc Trọng sự việc trên như lời trình bày của Bà T.
[6] Tuy nhiên, T a án cấp sơ thẩm căn cứ vào Hợp đồng mua bán nông sản viết tay ghi ngày 17/10/2013 (BL 13) có nội dung Bà T bán cho vợ chồng Ông D, bà N 10 000 g cà phê nhân đã nhận đủ tiền, ngày giao hàng là 20/12/2013 và giấy chốt nợ ghi ngày 26/01/2014 có nội dung “chị Toàn Kính đến ngày chị nợ chốt cà phê nhân xô = 14.331kg trả đủ tiền chưa cân hàng” (BL 15) để xác định Bà T c n nợ vợ chồng Ông D, bà N tổng số cà phê là 24 331 g và ch buộc Bà T có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng Ông D, bà N 24 331 g theo giá thị trường với tổng số tiền là 742 095 500 đồng (24 331 g x 30 500 đồng) là hông đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng Ông D, bà N Bởi lẽ, trong quá trình làm ăn chốt mua bán cà phê thì ngày 19/4/2015 Bà T và vợ chồng Ông D, bà N đã tiến hành đối chiếu chốt nợ bằng “Hợp đồng mua bán nông sản” Hợp đồng mua bán nông sản trên được các bên ý ết hoàn toàn tự nguyên, hông trái pháp luật và đạo đức xã hội nên T a án cấp phúc thẩm cần căn cứ vào hợp đồng này để buộc Bà T có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng Ông D, bà N số tiền 1 138 600 000 đồng tương đương với 24 500 g cà phê nhân Bà T c n nợ vợ chồng Ông D, bà N tại thời điểm chốt nợ là có căn cứ và đúng pháp luật
Với phân tích trên, T a án cấp phúc thẩm cần chấp nhận háng cáo của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D để sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên là có căn cứ
[7] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự hông phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm nhưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật Cụ thể:
Buộc Bà Hoàng Thị T phải chịu 46 158 000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho vợ chồng Ông D, bà N (1.138.600.000 đồng = 36 000 000 đồng + 3 % vượt quá 800 000 000 đồng).
Vì các lẽ trên,
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án
Chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đơn Bà Đỗ Thị N, Ông Dương Văn D, sửa bản án sơ thẩm Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn vợ chồng ông bà Dương Văn D, Đỗ Thị N.
Buộc Bà Hoàng Thị T có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông bà Dương Văn D, Đỗ Thị N số tiền nợ là 1 138 600 000 đồng (Một tỷ một trăm ba mươi tám triệu sáu trăm ngàn đồng)
- Lãi suất chậm thi hành án:
“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự”
2- Về án phí sơ thẩm:
2.1- Buộc Bà Hoàng Thị T phải chịu 46 158 000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.2- Hoàn trả cho vợ chồng Ông Dương Văn D, Bà Đỗ Thị N số tiền 23.079.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006646 ngày 01/4/2019 của chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
3- Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho vợ chồng Ông Dương Văn D, Bà Đỗ Thị N số tiền 300 000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000161 ngày 26/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án /
| Nơi nhận - VKSND t nh Lâm Đồng; - TAND H. ĐT; - CCTHADS H. ĐT; - Ph ng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Huỳnh Châu Thạch - Nguyễn Văn Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ý) Bùi Hữu Nhân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |