vanban.org

Bản án 102/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lý P đối với ông Hồ Tấn Đ.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lý P được ly hôn với ông Hồ Tấn Đ. Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Lý P được quyền trực tiếp nuôi cháu Hồ Thúy N, sinh ngày 13/5/2017. Ông Hồ Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà P không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Lý P ly hôn Hồ Tấn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lý P đối với ông Hồ Tấn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 171/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13-8-2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

2. Bà Nguyễn Thị Rạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 722/2018/TLST-HNGĐ, ngày 27/6/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102 /2018/QĐST-HNGĐ, ngày 27/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lý P, sinh năm 1996, (có mặt).

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Hồ Tấn Đ, sinh năm 1995, (vắng mặt)

Trú tại: Ấp H, xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2018 và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lý P trình bày tóm tắt như sau:

Bà và ông Hồ Tấn Đ có tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân, được hai bên tổ chức lễ cưới hỏi năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 14/7/2016. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc cho đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, bà và ông Đ ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông Hồ Tấn Đ.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Hồ Thúy N, sinh ngày 13/5/2017, hiện đang sống với bà. Ly hôn, bà xin được quyền nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Hồ Tấn Đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà P. Ông Đ cũng không đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải. Nguyên đơn bà P có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải vụ án. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn ông Hồ Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lý P và ông Hồ Tấn Đ cưới nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đức Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/7/2016 (số 73/2016) nên quan hệ hôn nhân của bà P và ông Đ được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Bà P cho rằng cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc là do ông Đ không quan tâm, chăm sóc gia đình nên mới xin ly hôn. Ông Đ được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án thể hiện việc bà P yêu cầu xin ly hôn với ông tại Tòa án nhưng ông Đ không có ý kiến, không thể hiện ý chí đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên Tòa, bà P xác định không còn tình cảm với ông Đ và cương quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Lý P đối với ông Hồ Tấn Đ.

Về quyền nuôi con chung: Khi ly hôn, bà P có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung Hồ Thúy N, sinh ngày 13/5/2017. Ông Đ không có ý kiến phản đối yêu cầu của bà P về nuôi con. Xét thấy, cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi hiện đang do bà P nuôi dưỡng vẫn phát triển ổn định, bình thường. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P xác định bà và ông Đ không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung giữa các bên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung của bà P và ông Đ.

Trường hợp sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung cũng như quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Lý P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lý P đối với ông Hồ Tấn Đ.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lý P được ly hôn với ông Hồ Tấn Đ.

Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Lý P được quyền trực tiếp nuôi cháu Hồ Thúy N, sinh ngày 13/5/2017. Ông Hồ Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà P không yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lý P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung công quỹ nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002697, ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án.

“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ