vanban.org

Bản án 102/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 03/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phùng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng K 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khùng K - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phùng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 102/2018/HSST
Ngày 03-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Thúy Lan;

Bà Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 92/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Phùng K, sinh năm 1992, tại tỉnh N ; thƣờng trú: Số 40/9, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; con ông

́ Nguyễn Phùng C, sinh năm 1968 và bà Văn Thi ̣ H, sinh năm 1966; bị cáo có 03 anh em, lớ n nhất là bi ̣ cáo nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/11/2017. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Ngô Hoàng P, sinh ngày 01/9/2000; thƣờng trú: Số 221/12, khu phố 4, phƣờng T, Quận 12, Thành phố H; chỗ ở: Tổ 22, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 221/12, khu phố 4, phƣờng T, Quận 12, Thành phố H; chỗ ở: Tổ 12, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

2. Anh Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/5/2000; thƣờng trú: 317/7C khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; thƣờng trú: 317/7C khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

3. Anh Nguyễn Phúc Đ, sinh năm 1996; thƣờng trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh A; chỗ ở: Khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

4. Anh Lê Minh T, sinh năm 1991; thƣờ ng trú: Ấp 13, xã P, huyện G, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

5. Anh Phạm Nhựt H, sinh năm 1962; thƣờng trú: Khu phố S, phƣờng S, thị xã P, tỉnh B; chỗ ở: Khu phố N, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

6. Anh Huỳnh Thanh T, sinh ngày 01/01/2000; thƣờng trú: Số 1/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

7. Anh Lê Thành N, sinh ngày 24/9/2000; thƣờng trú: Số 89/5B, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Phùng K là ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy, do muốn có tiền tiêu xài và có ma túy để sƣ̉ du ̣ng nên K đa thƣ̣̃

c hiê ̣n hành vi mua bán ma túy tƣ̀ đầu tháng 11/2017. Ngày 25/11/2017, Nguyễn Phùng K mua 01 gói ma túy với giá 1.200.000 đồng của mô ̣t ngƣờ i đàn ông ta ̣i k hu vƣ̣c cầ u vƣợt S , sau đó K đem về phân nhỏ thành 07 gói để bán cho ngƣời khác kiếm lời. Ngƣờ i nào muốn sƣ̉ du ̣ng ma túy thi go ̣i cho K qua số điê ̣n thoa ̣i 0921.415.316 để thỏa thuận giá

̀ và địa điểm giao hàng . Mỗi liề u ma túy K bán với giá từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng.

Vào lúc 11 giờ ngày 26/11/2017, K mang theo 07 gói ma túy nhờ một đối tƣợng tên Ú t T (chƣa rõ nhân thân , lai li ̣ch) chở K đến tiệm cắt tóc H tại tổ 27, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Trên đƣờng đi K bán cho Út T 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa Dĩ An kiểm tra hã

̀nh c hính tiệm cắt tó c H. Trong lú c lƣ̣c lƣợng kiểm tra , K giấu 06 gói ma túy còn lại vào bổn rửa mặt của tiệm cắt tóc nhƣng vẫn bi ̣ phát hiê ̣n và K đa thƣ̃ ̀ a nhâ ̣n số lƣợng ma túy là của K đem theo để bán cho ngƣời khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa Dĩ An đã

lâ ̣̃ p biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng để xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra K khai nhận:

- Ngày 20/11/2017, tại tiệm cắt tóc H , K đa bã ́n cho Nguyễn Phúc Đ 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng;

- Ngày 22/11/2017, tại địa chi sổ ́ 40/9, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B, K đa bã ́n cho Ngô Hoàng P 01 gói ma túy với giá 250.000 đồng;

- Ngoài ra, K còn bán ma túy cho Nguyễn Minh N 03 lần nhƣng không nhớ rõ ngày tháng, mỗi lần N mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng.

Tổng cô ̣ng số tiền K đa bã ́n ma túy cho cá c đối tƣợng Nguyễn Phúc Đ , Ngô Hoàng P, Nguyễn Minh N là 1.850.000 đồng.

Vâ ̣t chƣ́ ng thu giƣ̃ trong vu ̣ án : 06 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 bô ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá , 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia màu vàng và sim điê ̣n thoa ̣i số 0921.415.316, số tiền 150.000 đồng.

Căn cứ kết luận giám định số 549/MT-PC54 ngày 27/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định tinh thể màu trắng có trong 06 gói nylon là Methamphetamine có trọng lƣợng 0,6806g.

Ngày 05/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can, tạm giam bị can đối với Nguyễn Phùng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đối với ngƣời đàn ông chƣa rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho K ở khu vực cầu vƣợt S và đối tƣợng Út T chƣa rõ nhân thân , lai li ̣ch, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.

Đối với các đối tƣợng Nguyễn Phúc Đ, Ngô Hoàng P , Nguyễn Minh N vớ i hành vi sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định xƣ̉ pha ̣t hành chinh và thông báo về đi ̣a phƣơng để quản

́

lý giáo dục theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 549/MT-PC54 ngày 27/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng nêu trên.

Tại cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Phùng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng K mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù và xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng và biê ̣n pháp tƣ pháp theo quy đi ̣nh.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phùng K không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nô ̣i dung: Tƣ̀ đầu tháng 11/2017 cho đến ngày 26/11/2017, trên đi ̣a bàn thị xã D ĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Phùng K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy c ho các đối tƣợng Nguyễn Phúc Đ, Ngô Hoà ng P, Nguyễn Minh N và đối tƣợng tên Út T thì bị lực lƣợng Công An thị xã Dĩ An tuần tra phát hiện. Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự thì “1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt tù từ bảy năm đến mườ i lăm năm

a. Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần”.

Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Phùng K mua bán ma túy cho nhiều ngƣờ i ở nhiều thờ i điểm khác nhau đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Phùng K thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng và kiếm lờ i nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều đối tƣợng khác nhau nên thuộc trƣờ ng hợp pha ̣m tô ̣i nhiều lần theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 2 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sƣ̣ năm 1999. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức

̀ án phù hợp có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Phùng K không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Nhâ ̣n đi ̣nh pháp luâ ̣t không có sƣ̣ thay đổi đối vớ i tô ̣i danh này.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự.

[7] Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng và biện pháp tƣ pháp:

- 01 bì thƣ đƣợc niêm phong số 549/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,5921g cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 bô ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá thu giƣ̃ của các đối tƣợng trong vụ án và 01 sim điê ̣n thoa ̣i số 0921.415.316 do không còn giá tri ̣ sƣ̉ du ̣ng nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy;

- 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣n

g hiê ̣u Nokia

6300 màu vàng , số IMEI 356960/01/995104/0 và số tiền do bán ma túy mà có 150.000 đồng (đa thu giƣ̃

̃) cần ti ̣ch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

- Buô ̣c bi ̣ cáo phải nô ̣p la ̣i số tiền 1.850.000 đồng do bi ̣ cáo bán ma túy mà có để sung vào quỹ Nhà nƣớc.

[8] Đối với ngƣời đàn ông chƣa rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho K ở khu vực cầu vƣợt S, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Phùng K phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phùng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng K 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2017.

2. Về xƣ̉ lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣ năm 1999; điểm a và đ

̀ khoản 2 Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sƣ̣ năm 2015.

̀

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì thƣ đƣợc niêm phong số 549/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,5921g;

+ 01 bô ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá và 01 sim điê ̣n thoa ̣i số 0921.415.316 do không còn giá tri ̣ sƣ̉ du ̣ng;

- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc: 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia 6300 màu vàng, số IMEI 356960/01/995104/0 và số tiền 150.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứ ng, tài sản ngày 09/02/2018 giữa Cơ quan Cảnh sá t điều tra công an thi ̣ xã Di An và Chi cục Thi hà nh á n Dân sự thi ̣

̃

xã Dĩ An và biên lai thu tiền số 00725 ngày 09/02/2018 của Chi cục Thi hà nh á n Dân sự thi ̣ xã Di An ).

̃

- Buô ̣c bi ̣ cáo phải nô ̣p la ̣i số tiền thu đƣợc tƣ̀ viê ̣c bán ma túy 1.850.000 (Mô ̣t triê ̣u tám trăm năm mƣơi ngàn) đồng để sung vào quỹ nhà nƣớc.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Phùng K phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án.

Cỡ chữ