- Tranh chấp gì? án hình sự — "MBMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Thanh H và bị cáo Vũ Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:102/2018/HSST Ngày : 15-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bách
2. Bà Nguyễn Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Châu – Thư ký Tòa án quận Tây Hồ,
thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Viết – Kiểm sát viên.
Trong Ngày 15 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2018/TLST-HS Ngày 16 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2018/QĐXXST-HS, Ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với:
BỊ CÁO: ĐỖ THỊ THANH H – sinh Ngày : 18/8/1980 tại Hà Nội; HKTT: Số nhà A, đường Â, phường N, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; Trú tại: Số nhà Q, đường Â, phường N, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị M; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 01; Chồng: Trần Đức H1, có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; Theo Danh chỉ bản số: 129 lập Ngày 12/4/2018 tại Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và lý lịch địa pH cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa (Ngày 18/01/2008, TAND quận Ba Đình xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 20/9/2010, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) và 04 tiền sự (Tháng 10/1997, CAP Nhật Tân xử phạt hành chính về tội Gây rối trật tự công cộng; Tháng 8/1998, CAP Nhật Tân xử phạt hành chính về tội Gây rối trật tự công cộng; Ngày 16/01/2002, CAQ Tây Hồ xừ phạt hành chính về hành vi Chiếm đoạt tài sản công dân; Ngày 14/7/2003, cai nghiện bắt buộc 24 tháng); Bị cáo bị bắt truy nã Ngày 21/4/2018 (có mặt).
BỊ CÁO: VŨ THỊ N – sinh năm: 1984 tại Hà Nội; HKTT và trú tại: Số nhà Q, làng Y, phường Y, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12 ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Thành C và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; Theo Danh chỉ bản số: 015 lập Ngày 05/12/2017 tại Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; Về nhân thân: Bị cáo 03 tiền sự (Tháng 08/2004, cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Tháng 10/2009, cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Tháng 12/2013, cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm 2); Bị cáo bị bắt quả tang Ngày 27/11/2017 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng Ngày 27/11/2017, Nguyễn Việt Hà gọi điện thoại nhờ Đoàn Long Diên mua hộ Hà 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy “đá”. Khi nào có người giao ma túy thì Hà trực tiếp đến nhận và trả tiền. Diên đồng ý, gọi điện thoại cho Đỗ Thị Thanh H hỏi mua ma túy. H đồng ý và thỏa thuận với Diên sẽ nhờ N đưa ma túy đến cho Diên. Đến khoảng 11 giờ cùng Ngày , H gặp N ở khu vực vỉa hè trước số 1, đường Vệ Hồ, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Tại đây, H bảo N đưa chiếc ví da màu nâu của N cho H . H để 2 túi nilon chứa ma túy tinh thể màu trắng vào trong ví và dặn N mang đi giao cho Diên. N cầm chiếc ví bên trong có ma túy rồi đi xe ôm đến khu vực Ciputra, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trên đường đi, Diên gọi điện thoại cho N và hẹn N đến khu vực đường 40 mét, khu đô thị Nam Thăng Long, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội giao ma túy.
Khoảng 13 giờ 30 phút Ngày 27/11/2017, khi N cầm chiếc ví chứa ma túy đến khu vực đường 40 mét, khu đô thị Nam Thăng Long, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội thì bị Tổ công tác công an phường Phú Thượng kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, N đã ném chiếc ví da chứa ma túy từ tay phải của N xuống đất. Tổ công tác đã thu giữ chiếc ví da, kiểm tra phát hiện bên trong có: 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng bên ngoài bọc bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đ (năm nghìn đồng), 01 túi nilon bên trong chứa nhiều mẩu nhỏ dạng lá màu nâu. Tổ công tác đã đưa N và tang vật về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Vũ Thị N : 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng bên ngoài bọc bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đ (năm nghìn đồng); 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều mẩu nhỏ dạng lá màu nâu; 01 ví da màu nâu; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Samsung màu vàng.
Thu giữ của Đoàn Long Diên 01 điện thoại di động Iphone màu vàng;
Quá trình điều tra, H không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã đối với Đỗ Thị Thanh H . Ngày 21/04/2018, Cơ quan điều tra bắt Đỗ Thị Thanh H theo quyết định truy nã. Cùng Ngày , tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại số 67B/264/15 Âu Cơ, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, phát hiện thu giữ tại quạt thông gió trong phòng của H có: 01 hộp giấy nhỏ màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, 03 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng đều được quấn bằng băng dính màu xanh; 02 coóng thủy tinh, 01 ống nhựa màu trắng.
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Thị Thanh H và Vũ Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. H và N còn khai nhận nếu bán ma túy trót lọt H sẽ cho N cùng sử dụng ma túy và 100.000 đồng tiền công, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người làm chứng, tài liệu, tang tài vật thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
H khai nhận: Số ma túy thu giữ tại nhà và ma túy H đưa cho N để đem bán cho Diên là của H mua của một người phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi (không rõ họ tên tuổi địa chỉ cụ thể) với giá 1.500.000 đồng không nhớ Ngày nào tại khu vực gần nhà H để bán cho người khác kiếm lời. H khai có nhờ Chu Bảo Lâm gọi điện cho N nhưng không nói cho Lâm biết giao dịch mua bán ma túy.
Theo kết luận giám định số: 7146/KLGĐ-PC54 Ngày 18/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon thu giữ của N đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng trọng lượng 2,690 gam; Các mẩu nhỏ dạng lá màu nâu có trọng lượng 0,323 gam không tìm thấy thành phần ma túy.
Theo Kết luận giám định số: 3761A/KLGĐ-PC54 Ngày 27/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 04 túi nilon thu giữ của H đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,069 gam.
Kết quả thử nước tiểu của Vũ Thị N , Đỗ Thị Thanh H , Đoàn Long Diên, Nguyễn Việt Hà đều dương tính với ma túy.
Kết quả tiến hành nhận dạng giữa Đỗ Thị Thanh H , Vũ Thị N , Đoàn Long Diên đều nhận ra được H , N đã giao dịch bán ma túy cho Diên.
Đối với hành vi của Đoàn Long Diên, Nguyễn Việt Hà chưa nhận được ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự. Ngày 18/04/2018, Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính Diên và Hà về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, trao trả chiếc điện thoại di động Iphone cho Diên.
Đối với Chu Bảo Lâm đã gọi điện thoại cho N theo yêu cầu của H nhưng không biết việc giao dịch bán ma túy giữa H , N và Diên nên không xem xét xử lý.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho H , do thời gian đã lâu nên H không nhớ được cụ thể thời gian mua cũng như không quen biết người phụ nữ này nên không làm rõ được.
Đối với các tài sản khác thu giữ của N , N khai là tài sản của N .
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi theo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo H khai sau khi thuê N đi bán ma túy cho Diên, biết tin N bị bắt bị cáo đã bỏ trốn lang thang vì sợ bị bắt. Bị cáo N khai nếu bán trót lọt gói ma túy sẽ được hưởng công 100.000 đồng.
Cáo trạng số 108/CT-VKS Ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Thanh H và bị cáo Vũ Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Thanh H và bị cáo Vũ Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo H phạm tội khi đang có thai
Căn cứ khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999; điểm s, điểm n (đối với bị cáo H ) khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết 41 về thi hành Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Về hình phạt:
- Đề nghị xử phạt bị cáo H mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo N mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 2,690 gam Methamphetamine thu giữ của N và 1,069 gam Methamphetamine thu giữ của H .
Đối với tài sản thu giữ của N : Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều mẩu nhỏ dạng lá màu nâu; 01 ví da màu nâu.
Tịch thu sung công 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Samsung màu vàng.
Đối với tài sản thu giữ của H : Đề nghị tịch thu, tiêu hủy tiêu hủy 02 coóng thủy tinh, 01 ống nhựa màu trắng.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, bị cáo H và N nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/11/2017, Đỗ Thị Thanh H và Vũ Thị N đã có hành vi bán 02 túi nilong chứa 2,690 gam ma túy Methamphetamine cho Đoàn Long Diên mục đích kiếm lời thì bị Tổ công tác công an quận Tây Hồ bắt quả tang. Ngoài ra, Ngày 21/04/2018, khám xét nhà H thu giữ 04 túi nilong chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,069 gam cất giấu để bán.
Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Thanh H và Vũ Thị N đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác.
Xét vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo H là người chủ động cung cấp ma túy thuê bị cáo N bán ma túy cho hai đối tượng Diên, Hà. Bị cáo N là người trực tiếp mang ma túy đi bán, nếu trót lọt được bị cáo H trả công 100.000 đồng. Do đó bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán 2,690 gam ma túy Methamphetamine vào Ngày 27/11/2017. Ngoài ra bị cáo H còn khai nhận số ma túy có khối lượng 1,069 gam Methamphetamine thu giữ tại nơi ở vào Ngày 21/4/2018 sử dụng vào việc bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Do đó bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 khối lượng ma túy là Methamphetamine đã thu giữ vào Ngày 27/11/2017, và Ngày 21/4/2018
Xét nhân thân các bị cáo: Bị cáo H đã có 02 tiền án đã được xóa về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy, 04 tiền sự đã được xóa, trong đó có 01 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc. Bị cáo N có 03 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc đã được xóa. Điều này cho thấy rằng các bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục nhưng nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H và N thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo H phạm tội khi đang có thai nên được coi là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
Khi lượng hình, do các bị cáo phạm tội trước Ngày 01/01/2018 nên Hội đồng xét xử áp dụng những điểm có lợi cho người phạm tội qui định khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 Ngày 20/6/2017 của Quốc hội làm căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập có mức độ không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
Về vật chứng:
- Cho tịch thu, tiêu hủy hủy 2,690 gam Methamphetamine thu giữ của N và 1,069 gam Methamphetamine thu giữ của H là vật nhà nước cấm lưu hành.
- Đối với tài sản thu giữ của N : Cho tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều mẩu nhỏ dạng lá màu nâu; 01 ví da màu nâu
Tịch thu sung công 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Samsung màu vàng.
- Đối với tài sản thu giữ của H : Cho tịch thu, tiêu hủy 02 coóng thủy tinh, 01 ống nhựa màu trắng.
Các bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Thanh H và bị cáo Vũ Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s, n (Đối với bị cáo H ) khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt: Đỗ Thị Thanh H 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ Ngày 21/4/2018.
Xử phạt: Vũ Thị N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ Ngày 27/11/2017.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bao niêm phong được dán kín bên trong chứa 2,690 gam Methamphetamine và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều mẩu nhỏ dạng lá màu nâu có chữ ký của Vũ Thị N và Giám định viên;
- 01 bao niêm phong được dán kín bên trong chứa 1,069 gam Methamphetamine và 02 coóng thủy tinh có chữ ký của Đỗ Thị Thanh H và Giám định viên; 01 ống nhựa màu trắng;
- 01 ví da nhỏ màu nâu.
+ Tịch thu sung công:
- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo Biên bản giao nhận vật chứng Ngày 09/7/2018; Số tiền: 200.000đ do Kho bạc nhà nước quận Tây Hồ tạm giữ theo Biên bản giao nhận tài sản Ngày 02/7/2018).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 Ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 Ngày , kể từ Ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Tây Hồ; - CCTHADS quận Tây Hồ; - CAQ Tây Hồ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diệp |