- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lê Thị H đƣợc ly hôn với anh Phan Văn L (Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 22 tháng 4 năm 2015).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 102/2018/HNGĐ-ST Ngày 24-8-2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 652/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 116/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1992; thƣờng trú: Xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên hệ: Số 419/3B đƣờng V, khu phố 4, phƣờng A, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1993; thƣờng trú: Số 322/2A khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chi ̣ Lê Thị H trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu khoảng 02 năm, chị và anh Phan Văn L về chung sống với nhau và có tổ chức lễ cƣới vào năm 2014. Đến ngày 22/4/2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 1. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống tại nhà bố mẹ chồng tại số nhà 322/2A khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Ngay từ những ngày đầu chung sống, anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, mặc dù cả hai đã nhiều lần cố gắng cho nhau cơ hội nhƣng vẫn không hòa hợp đƣợc. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng gia đình hai bên đều biết nhƣng không có ý kiến gì. Từ tháng 10/2015, chị cùng con gái về nhà mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng chị ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phan Văn L.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Phan Kim A, sinh ngày 27/01/2015, hiện tại cháu đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung , nghĩa vụ chung về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận , không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 18/7/2018, bị đơn anh Phan Văn L trình bày:
Anh L thống nhất về thời gian tìm hiểu, kết hôn, quá trình chung sống nhƣ chị H trình bày. Anh xác định, sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến gần cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có sự thấu hiểu và không hợp nhau về tính cách, lối sống. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2015 đến nay. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Phan Kim A, sinh ngày 27/01/2015, hiện tại cháu đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và anh không cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung , nghĩa vụ chung về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận , không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đ ại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Hô ̣i đồng xét xƣ̉ , nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tu ̣ng dân sƣ̣ ; nguyên đơn và bị đơn đều có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.
Về việc giải quyết vụ án: Chị H và anh L có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn trong một thời gian, không thể hàn gắn. Cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm và không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với nhau. Chị H xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận . Về con chung, chị H và anh L đều thống nhất giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng, anh L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung đƣơng sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Phan Văn L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cƣ́ các điều 207 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc và Tòa án xét xử vắng mặt chị Lê Thị H và anh Phan Văn L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phan Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 22 tháng 4 năm 2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Lê Thị H cho rằng quá trình chung sống tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, mặc dù cả hai đã nhiều lần cố gắng cho nhau cơ hội nhƣng vẫn không hòa hợp đƣợc. Bản thân anh Phan Văn L cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn xuất phát từ việc không hợp nhau và không có sự thấu hiểu lẫn nhau. Cả hai anh chị đều xác định đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc; bản thân anh chị đều thừa nhận không mong muốn đoàn tụ hàn gắn gia đình. Nhâ ̣n thấy, mâu thuẫn vợ chồng giƣ̃a chi ̣ H và anh L đa thâ ̣̃
t sƣ̣ trầm tro ̣ng, đờ i sống chung không thể kéo dài , mục đích hôn nhân không đạt đƣợc . Chị H xin ly hôn và anh L cũng đồng ý, nhƣng do anh L đang chấp hành án tù và có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không thể hòa giải đƣợc. Nhƣ vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Ghi nhận anh Phan Văn L đồng ý giao con chung tên Phan Kim A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng.
Về vấn đề cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhâ ̣n sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n của chị Lê Thị H không yêu cầu anh Phan Văn L cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sƣ̣ sơ thẩm về ly hôn theo quy định của khoản 4 Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sƣ̣.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 207, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị H đƣợc ly hôn với anh Phan Văn L (Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 22 tháng 4 năm 2015).
2. Về con chung: Anh Phan Văn L giao con chung Phan Kim A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Chi nhâ ̣n sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n của chị Lê Thị H không yêu cầu anh Phan Văn L cấp dƣỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Lê Thị H phải tạo điều kiện cho anh Phan Văn L thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không đƣợc quyền cản trở anh Phan Văn L thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019645 ngày 21/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2); - VKSND thị xã Dĩ An (1); - CC THADS thị xã Dĩ An (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - UBND phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng (1); - Lƣu VT, hồ sơ vụ án (2); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |