vanban.org

Bản án 102/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 29/06/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Kiện Quyết định phê duyệt phương án bồi thường khi nhà nước thu hồi đất"
  • Căn cứ chính? Điều 74 Luật Đất đai; Điều 83 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2018/HC-PT
Ngày: 29-6-2018
V/v Kiện
phê duyệt phương
án bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

–

Ông Lê Tự

Ông

Ông Trương Công Thi

-

.

tham gia phiên tòa: Ông

- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 141/2018/TLPT-HC ngày 14/3/2018 về việc “Kiện

phê duyệt phương án bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 03/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk bị kháng cáo.

Theo

đưa vụ án ra xét xử số 141/2018/QĐ-PT ngày 24 tháng 04 năm 2018, giữa các đương sự:

*Người khởi kiện: Ông Phạm Ngọc C;

Địa chỉ: Buôn TS,

N, huyện L, tỉnh Đăk Lăk;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đức D;

Địa chỉ: Số 159 đường LTT, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

(

12/7/2017)

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đăk Lăk.

Người đại diện theo uỷ quyền

–

Ủy ban nhân dân huyện L (

-

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty Phát điện X.

Địa chỉ: Khu Công nghiệp P1, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo uỷ quyền

–

Công ty

K (

4388/UQ-GENCO3

18/12/2017)

*

:

.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Phạm Ngọc C trình bày:

Năm 2001, ông Phạm Ngọc C ký kết hợp đồng kinh tế với UBND xã N, huyện L về việc nhận giao khoán mặt nước lòng hồ Đ có diện tích khoảng 7ha với thời hạn 20 năm, kể từ ngày 01/4/2001 đến ngày 01/4/2021. Năm 2005, để thực hiện dự án xây dựng lòng hồ thủy điện buôn TS, UBND huyện L q

thu hồi toàn bộ diện tích mặt nước lòng hồ Đ mà ông C đang nuôi trồng thủy sản.

Ngày 17/7/2013, UBND huyện L ban hành

số: 1281/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ xây dựng công trình: Lòng hồ thủy điện Buôn TS (theo

số 562/QĐ-UBND ngày 20/3/2013 của ỤBND tỉnh Đắk Lắk). Do không đồng ý với

phê duyệt này nên ông C đã khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền.

Tại bản án hành chính phúc thẩm số 04/2015/HC-PT ngày 11/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên hủy

hành chính số 1281/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ xây dựng công trình: Lòng hồ thủy điện Buôn TS. Buộc UBND huyện L phải xây dựng lại phương án bồi thường hỗ trợ theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi bị hủy

hành chính số 1281. Ngày 15/9/2015, cơ quan có th m quyền ban hành Biên bản công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ tr công trình lòng hồ thủy điện buôn TS theo bản án số 04/2015/HC-PT ngày 11/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xác định, tính toán thêm các khoản được hỗ trợ sau:

- Tiền hỗ trợ đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 69.299 m2 với số tiền là 353.424.900 đồng.

- Tiền hỗ trợ 30kg gạo tẻ thường cho 6 nhân khấu trong thời gian 36 tháng là 84.240.000 đồng, theo

số 39/2014/QĐ-ƯBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Tuy nhiên, tại

số: 2285/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Lòng hồ thủy điện Buôn TS, xã N, huyện L đã không bổ sung, điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông C đối với các khoản tiền nêu trên.

Vì vậy, ông C đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy

số: 2285/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 của UBND huyện L, đồng thời buộc UBND huyện L lập lại phương án phê duyệt bồi thường, hỗ trợ để bổ sung thêm các khoản còn thiếu như sau:

1/ Tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại, còn thiếu 30.186.400 đồng.

2/ Tiền bồi thường thiệt hại do phải thu hoạch cá sớm trong thời gian 09 tháng năm 2005, còn thiếu 18.146.610 đồng.

3/ Tiền hỗ trợ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm, còn thiếu 858.638.304 đồng.

4/ Tiền hỗ trợ đất nuôi trồng thủy sản trên diện tích 69.299 m2 mặt nước với số tiền là 353.424.900 đồng.

5/ Tiền hỗ trợ 30kg gạo tẻ thường cho 6 nhân khẩu trong thời gian 36 tháng là 84.240.000 đồng.

6/ Tiền bồi thường thiệt hại về công trình kiến trúc trên đất (Nhà sàn dân tộc diện tích 133,2 m2), còn thiếu 44.719.929 đồng.

Quá trình

, người khởi kiện rút một phần đơn khởi kiện về:

(1) Tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại, còn thiếu 30.186.400 đồng;

(2) Tiền bồi thường thiệt hại do phải thu hoạch cá sớm trong thời gian 09 tháng năm 2005 còn thiếu 18.146.610 đồng;

(3) Tiền bồi thường thiệt hại về công trình kiến trúc trên đất (Nhà sàn dân tộc diện tích 133,2 m2) còn thiếu 44.719.929 đồng

chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xem xét giải quyết các yêu cầu sau:

(1) Tiền hỗ trợ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm, còn thiếu 858.638.304 đồng.

(2) Tiền hỗ trợ đất nuôi trồng thủy sản trên diện tích 69.299 m2 mặt nước với số tiền là 353.424.900 đồng.

(3) Tiền hỗ trợ 30kg gạo tẻ thường cho 6 nhân khẩu trong thời gian 24 tháng là 56.160.000 đồng.

Với tổng số tiền là: 1.268.223.204 đồng.

Người bị kiện UBND huyện L trình bày:

Về nội dung yêu cầu bồi thường tiền hỗ trợ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm: Việc bồi thường hỗ trợ cho ông Phạm Ngọc C và những người khác có đất bị thu hồi để xây dựng công trình Lòng hồ thủy điện Buôn TS trên địa bàn huyện L, thời điểm năm 2005 UBND tỉnh Đăk Lăk đã ban hành

số 1585/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư khu lòng, hồ bờ phải đợt 1, xã N, huyện Lẵk. Số tiền này ông Phạm Ngọc C đã ký nhận đủ tại biên bản giao trả tiền bồi thường ngày 24/9/2005.

Đối với việc ông Phạm Ngọc C yêu cầu hủy toàn bộ

số 2285/QĐ-UBND ng y 22/9/2016 của UBND huyện L là không có cơ sở vì:

Phương án bồi thường, hỗ trợ xây dựng xong được niêm yết công khai 20 ngày tại trụ sở UBND huyện L và nhà sinh hoạt cộng đồng buôn TS, xã N, huyện L. Kết thúc thời gian niêm yết công khai các cơ quan ban ngành của huyện tổ chức thẩm định và tham mưu cho UBND huyện ban hành

phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ. Sau khi có

phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ Chi nhánh trung tâm phát triển quỹ đất huyện L tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và chi trả ti n cho người bị thiệt hại khi nhận được kinh phí của chủ đầu tư và trong suốt quá trình xây dựng phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đến khi kết thúc việc chi trả ông Phạm Ngọc C nhất trí với nội dung của phương án. Khi nhận tiền ông C đã cam kết hoàn toàn nhất trí với nội dung phương án b thường, h trợ đã được phê duyệt. Như vậy, UBND huyện L đã thực hiện đúng các quy định nêu ra trong bản án sau khi có hướng dẫn của cơ quan chuyên môn của tỉnh và được người bị thu hồi đất thống nhất cao.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

ông ty phát điện 3 trình bày:

Về thực hiện

số: 2285/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình lòng hồ thủy điện buôn TS, công ty thủy điện Buôn K đã chuyển tiền cho Chi nhánh trung tâm phát triển quỹ đất huyện L để chi trả cho hộ ông C. Vì nhiều lý do nên việc chuyển tiền bồi thường hỗ trợ (BTHT) để chi trả cho hộ ông Phạm Ngọc C có chậm so với quy đĩnh. Để khắc phục ảnh hưởng do việc chậm trả, các bên liên quan đã thỏa thuận số tiền chậm trả trên cơ sở lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật và số ngày chậm trả, trình cấp thẩm quyền xem xét chấp thuận. Theo đ , Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L đã lập phương án hỗ trợ bổ sung và được UBND huyện L phê duyệt tại số: 3409/QĐ-UBND ngày 01/11/2017. Đến nay, hộ ông Phạm Ngọc C đã được nhận đầy đủ số tiền BTHT khi nhà nước thu hồi đất và tiền hỗ trợ do chậm trả theo các phương án được duyệt tại các

nêu trên tại các đợt vào ngày 06/6/2017 và 21/11/2017 (có biên bản chi trả tiền BTHT đính kèm).

Tại biên bản chi trả tiền BTHT lập ngày 06/6/2017 theo phương án được duyệt tại

số: 2285/QĐ-UBND nêu trên, ông Phạm Ngọc C đã cam kết khi nhận tiền BTHT là “Hoàn toàn nhất trí với nội dung phương án BTHT đã được phê duyệt không còn thắc mắc hoặc khiếu nại gì liên quan đến việc BTHT diện tích đất bị ảnh hưởng". Tuy nhiên, ông Phạm Ngọc C lại có đơn khởi kiện để yêu cầu hủy

số: 2285/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 của UBND huyện L là trái với cam kết của ông C tại biên bản chi trả tiền BTHT lập ngày 06/6/2017.

đề nghị ông Phạm Ngọc C rút đơn khởi kiện, hoặc nếu không rút đơn khởi kiện thì chuyển trả tiền BTHT đã nhận lại vào tài khoản của Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L tại Kho bạc nhà nước huyện L để chờ Tòa án có th m quyền xem xét đơn khởi kiện về việc yêu cầu hủy số 2285/QĐ- UBND nêu trên.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 03/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã q

:

Căn cứ điểm c, g khoản 1 Điều 143, điểm b, khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Điều 74, Điều 83 Luật đất đai; điểm a, khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 19 Nghị định 47/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định của khi nhà nước thu hồi đất;

Căn cứ khoản 1,6,7 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016AJBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phạm Ngọc C về yêu cầu hủy

số 2285/QĐ-UBND ngày 29/6/2005 của UBND huyện L.

Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phạm Ngọc C. Buộc UBND huyện L lập lại phương án hỗ trợ đền bù bổ sung đối với 69.299m2 diện tích mặt nước đã bị thu hồi của ông Phạm Ngọc C.

Bác yêu cầu khởi kiện về yêu cầu đền bù, hỗ trợ 30kg gạo tẻ thường cho 6 nhân khẩu trong thời gian 24 tháng.

Đình chỉ giải quyết xét xử đối với các yêu cầu: Tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại, còn thiếu 30.186.400 đồng; Tiền bồi thường thiệt hại do phải thu hoạch cá sớm trong thời gian 09 tháng năm 2005 còn thiếu 18.146.610 đồng; Tiền bồi thường thiệt hại về công trình kiến trúc trên đất (Nhà sàn dân tộc diện tích 133,2 m2) còn thiếu 44.719.929 đồng và tiền hỗ trợ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm còn thiếu 858.638.304 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn q

về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

ng Phạm Ngọc C

kháng cáo

.

Ông Phạm Ngọc C

kháng cáo

kháng cáo:

hỗ trợ 858.638.304đ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm

Ủy ban nhân dân huyện L

hỗ trợ 858.638.304đ. kháng cáo không

k

số 1585/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 của UBND tỉnh Đăk Lăk [1] Tại

giải quyết khiếu nại số: 390/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND huyện L và

số: 562/QĐ-UBND ngày 20/03/2013 của UBND tỉnh Đăk Lăk đã giải quyết và chấp nhận yêu cầu đền bù hỗ trợ 10% đối với diện tích 69.299m2 mặt nước nuôi tr ng thủy sản tại hồ Đăk Linh đã bị thu hồi của ông Phạm Ngọc C. [2] Ngày 11/3/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk

bản án phúc thẩm số: 04/2015/HC-PT tuyên huỷ toàn bộ Quyết định 1281/QĐ-UBND ngày 17/7/2013 của UBND huyện L. [3] Ngày 22/9/2016, UBND huyện L đã ban hành

số 2285/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo nội dung của bản án phúc thẩm số 04/2015/HC-PT

Tòa án nhân dân nhưng UBND huyện L không lên phương án bồi thường, hỗ trợ phần nuôi trồng thuỷ sản 69.299m2 là thiếu sót, không đúng

các

giải quyết khiếu nại số: 390/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND huyện L,

số: 562/QĐ-UBND ngày 20/03/2013 của UBND tỉnh Đăk Lăk

bản án phúc thẩm số: 04/2015/HC-PT

11/3/201

Tòa án nhân dân

. [4] Do đó,

chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc UBND huyện L ban hành phương án bồi thường hỗ trợ bổ sung phần đất nuôi trồng thuỷ sản trên diện tích 69.299m2

. [5]

kháng cáo

hỗ trợ 858.638.304đ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm

số 1585/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 của UBND tỉnh Đăk Lăk, ông C đã nhận tiền ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm

. Đến ngày 12/7/2017 ông C mới làm đơn khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện.

. [6]

không

kháng cáo

ng Phạm Ngọc C

. [7] Ông Phạm Ngọc C

Vì các lẽ trên;

ông Phạm Ngọc C.

Căn cứ Điều 74, Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; điểm a, khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 19 Nghị định 47/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

1. Không chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phạm Ngọc C về yêu cầu hủy

số 2285/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 của UBND huyện L.

2. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phạm Ngọc C: Buộc UBND huyện L lập lại phương án hỗ trợ đền bù bổ sung đối với 69.299m2 diện tích mặt nước đã bị thu hồi của ông Phạm Ngọc C.

3. Bác yêu cầu khởi kiện về yêu cầu đền bù, hỗ trợ 30kg gạo tẻ thường cho 6 nhân khẩu trong thời gian 24 tháng.

4. Đình chỉ giải quyết xét xử đối với các yêu cầu: Tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại, còn thiếu 30.186.400 đồng; Tiền bồi thường thiệt hại do phải thu hoạch cá sớm trong thời gian 09 tháng năm 2005 còn thiếu 18.146.610 đồng; Tiền bồi thường thiệt hại về công trình kiến trúc trên đất (Nhà sàn dân tộc diện tích 133,2 m2) còn thiếu 44.719.929 đồng và tiền hỗ trợ do ngừng nuôi trồng thủy sản trong thời gian 16 năm còn thiếu 858.638.304 đồng.

5.

Phạm Ngọc C biên lai số 0004423 ngày 24/7/2017 của Cục Thi hành án dân sự

.

Ủy ban nhân dân huyện L

6.

Ông Phạm Ngọc C

biên lai số 0005507 ngày 22/01/2018 của Cục Thi hành án dân sự

.

.

Cỡ chữ