vanban.org

Bản án 102/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 08/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Nhâm C và bị cáo V Duy T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo H Nhâm C 1 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/4/2017. Bị cáo Võ Duy T 09 (chín) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Nhâm Cường - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Nhâm C và bị cáo V Duy T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 102/2017/HSPT
Ngày: 08/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng

- Các thẩm phán:

Ông Nguy n H ng Tuấn

Ông Nguy n Tuấn Long

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa:

Bà Phạm Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2017/HSPT ngày 27/6/2017 đối với bị cáo Hồ Nhâm C và V Duy T do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. H Nhâm C, sinh năm 1994; trú tại: Tổ dân phố Dinh Thành 1, thị tr n Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Hồ Đức N (sinh năm 1970) và bà Hồ Thị Phương V (sinh năm 1971); vợ: Trần Ngọc Phương L (sinh năm 1996); có 01 con sinh năm 2016; tiền sự: Không;

Tiền án: 02 tiền án.

- Ngày 26/10/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;

- Ngày 12/3/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ch p hành xong hình phạt ngày 04/11/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2017, có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Duy T, sinh năm 1995; trú tại: Tổ 2 thôn Trung Nam, xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Võ Xuân D (sinh năm 1969) và bà Phạm Thị M (sinh năm 1971); tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 25/4/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ch p hành xong hình phạt ngày 25/8/2014.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI UNG V ÁN:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/9/2016, Hồ Nhâm C là bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian điều trị, C cho rằng nhân viên bảo vệ của Bệnh viện đã đè C xuống để bác sĩ điều trị tiêm thuốc làm C bị đau nên có ý định tìm đánh. Ngày 03/10/2016, C xu t viện theo yêu cầu của gia đình. Khoảng 08 giờ ngày 04/10/2016, C điều khiển xe mô tô BKS 79D1-319.79 đến nhà V Duy T rủ T đến Bệnh viện tâm thần tỉnh Khánh Hòa tìm đánh nhân viên bảo vệ. T đồng ý và mang theo một cây mác tự tạo. T điều khiển xe mô tô trên chở C đến khu vực Bệnh viện thì gặp anh Lê Thiện Thi và anh Nguyễn Ngọc Tu n (là Nhân viên bảo vệ Bệnh viện) đang làm nhiệm vụ trước cổng Bệnh viện. C nhảy xuống xe cầm mác chém từ phía sau vào vùng vai phải của anh Tu n, anh Tu n bỏ chạy vào khu phòng hành chính của Bệnh viện. Anh Thi th y vậy liền xông tới dùng tay trái k p cổ, tay phải đè cây mác xuống. Th y vậy, T hét to yêu cầu anh Thi buông C ra, khi anh Thi và C giằng co thì C rút trong túi quần ra một b m móng tay có đầu nhọn đâm vào cổ tay phải của anh Thi gây thương tích. Anh Thi sợ bỏ chạy, T chở C về nhà.

Ngày 20/10/2016, anh Lê Thiện Thi và anh Nguyễn Ngọc Tu n có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại bản Kết luận giám định y pháp về thương tích số 260/TgT và số 261/TgT ngày 26/10/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh Khánh Hòa đã kết luận: Lê Thiện Thi có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%; Nguyễn Ngọc Tu n có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%.

Tại bản Kết luận pháp y tâm thần số 09/KLGĐ ngày 23/01/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận: Hồ Nhâm C rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy (F19-ICD10). Tại thời điểm thực hiện hành vi gây thương tích: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh đã quyết định: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g, khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Nhâm C và bị cáo V Duy T. Xử phạt bị cáo Hồ Nhâm C 01 năm tù, bị cáo V Duy T 09 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích".

Ngày 29/5/2017, bị cáo Hồ Nhâm C có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 02/6/2017, bị cáo V Duy T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo; Đại diện Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ơ

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT X

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

* Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo còn trong thời hạn luật định nên nội dung kháng cáo của các bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

* Về nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo v n thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Tuy nhiên, các bị cáo kháng cáo xin giảm nh hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình.

Xét th y: Chỉ vì cho rằng người bị hại là nhân viên bảo vệ của Bệnh viện (nơi C điều trị bệnh) đã đè C xuống m i khi bác s tiêm thuốc, làm C bị đau nên bị cáo C đã nảy sinh ý định tìm đánh người bị hại. Ngày 04/10/2016, bị cáo Cđã rủ bị cáo Võ Duy T mang theo hung khí đến Bệnh viện tâm thần tỉnh Khánh Hòa tìm đánh nhân viên bảo vệ. Khi đến Bệnh viện, bị cáo C đã cầm mác chém từ phía sau vào vùng vai phải của anh Nguyễn Ngọc Tu n gây thương tích cho anh Tu n với tỷ lệ tổn thương là 2%, khi anh Lê Thiện Thi xông tới khống chế bị cáo C, thì bị cáo lại rút trong túi quần ra một b m móng tay có đầu nhọn đâm vào cổ tay phải của anh Thi gây thương tích cho anh Thi với tỷ lệ tổn thương là 1%.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo T vì nghe lời bị cáo C rủ đã mang theo hung khí và chở bị cáo C đến bệnh viện tìm đánh người bị hại. Bị cáo C là người trực tiếp gây thương tích cho cả những người đã h trợ, giúp bác s chữa trị bệnh cho chính mình. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật, vô cớ dùng hung khí xâm hại sức khỏe của người khác; không những gây tâm lý lo sợ, b t bình trong nhân dân, mà còn làm ảnh hưởng x u đến tình hình trật tự trị an xã hội.

Như vậy, c p sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử th y rằng: Bản thân các bị cáo đều là những người có nhân thân x u, bị cáo C có 02 tiền án và bị cáo T có 01 tiền án, đều về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên hành vi phạm tội của các bị cáo trong lần này thuộc trường hợp tái phạm. Tuy vậy, các bị cáo v n không chịu tu dư ng rèn luyện, l y đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo C là người đang bị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy cần phải điều trị, nhưng khi vừa ra khỏi bệnh viện bị cáo lại gây thương tích cho nhân viên bảo vệ tại bệnh viện vì nghĩ rằng họ đã làm đau bị cáo. Còn bị cáo T khi nghe bị cáo C rủ đi đánh người khác đã không can ngăn mà lại đồng tình hưởng ứng, tích cực mang theo hung khí và chở bị cáo C đi đánh người bị hại. Do vậy, hành vi của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét th y, khi lượng hình c p sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nh trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Mức án mà c p sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là tương xứng và phù hợp với tính ch t, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Các quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử th y không có căn cứ để ch p nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của các bị cáo.

Về án phí: Vì kháng cáo của các bị cáo không được ch p nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Nhâm C và bị cáo V Duy T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; điểm g, Khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Nhâm C và bị cáo V Duy T.

Xử phạt: Bị cáo H Nhâm C 1 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/4/2017.

Bị cáo Võ Duy T 09 (chín) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: M i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI Đ NG XÉT X PHÚC THẨM

Cỡ chữ