- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2016/HSST Ngày: 02/08/2016. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tú.
Ông Hoàng Văn Bình.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Thùy- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 08 năm 2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 105/2016/TL- HSST, ngày 23 tháng 06 năm 2016 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T (tên gọi khác Nguyễn Văn T) sinh năm 1963, tại huyện V, tỉnh Ninh Bình; Trú tại: Phố S, phường Gi, thành phố B, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; con ông Nguyễn Văn Ch và bà Hoàng Thị H; Vợ Ninh Thị Th (đã chết); Bị cáo có 3 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1992; Tiền án: Ngày 14 tháng 11 năm 2004 bị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 25 tháng 06 năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại 10/08/2013, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/03/2016 (Có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990 (Có mặt).
Trú tại: Số nhà 32, phố L, thị trấn T, huyện L, Ninh Bình.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Đức T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Đức T là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 04/09/2015, T sang qua khu vực cầu Non Nước thuộc địa phận xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua Heroin về sử dụng. Tại đây T gặp một người đàn ông T không rõ tên tuổi, địa chỉ mua 14 gói Heroin với giá 50.000đồng một gói, các gói có đặc điểm đều được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong là chất bột dạng cục kết tinh màu trắng. Mua được ma túy T cho vào một rúi ni lon kích thước (10cm x 15cm) mang về nhà cất giấu. Khoảng 3giờ ngày 05 tháng 09 năm 2015, T điều khiển xe mô tô Honda Future BKS 59N1-493.70 từ nhà ở phố S, phường B, thành phố B đến khu vực cầu mới, xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định mua thêm 100.000đồng được 02 gói ma túy có đặc điểm đều được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Mua được ma túy T cất vào túi áo phông bên ngực trái và điều khiển xe về thành phố Ninh Bình tìm chỗ sử dụng. Khoảng 3 giờ 20 phút ngày 05/09/2015, Nguyễn Thị H sinh năm 1995, trú tại phường B, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình là bạn quen biết của T, đang ở khu vực đường Trần Hưng Đạo, phường phúc Thành, thành phố Ninh Bình gọi điện nhờ T chở đi chơi, T đồng ý và điều khiển xe đến đón H. Khoảng 3 giờ 30 phút cùng ngày khi T chở H đến khu vực đường Vân Giang thuộc phố 10, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình thì bị tổ tuần tra cảnh sát cơ động Công an tỉnh Ninh Bình kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra thu giữ bên trong túi áo phông bên trái T đang mặc 02 gói nhỏ có đặc điểm đều được gói bên ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận là Heroin mua ở bên huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định về sử dụng. Tổ tuần tra đã niêm phong 02 gói ma túy theo quy định, đưa T cùng tang vật và mời người làm chứng về công an thành phố Ninh Bình lập biên bản vi phạm hành chính, ngoài ra còn thu giữ của bị cáo một xe Môtô Future BKS 59N1- 493.70 và số tiền 3.300.000đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T tại phố Tây S, phường B, thành phố B thu giữ:
Tại ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ 01 túi nilon màu trắng KT (10cm x 15cm) bên trong có 14 gói nhỏ đều được gói bằng giấy bạc màu vàng, mở các gói ra bên trong đều có chất bột dạng cục màu trắng.
Thu giữ trên mặt bàn cạnh giường ngủ 01 bình thủy tinh cao khoảng 15cm, nắp bình cắm một ống thủy tinh có đầu ống hình tròn và một vòi nhựa dài khoản 40cm; 04 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 05 bật lửa gas; 20 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng.
Cơ quan công an đã tiến hành cân chất bột dạng cục màu trắng thu của Nguyễn Đức T.
Đối với hai gói thu giữ trên người T:
Gói thứ nhất chất bột dạng cục mầu trắng có trọng lượng là 0,13gam, trích 0,035gam kí hiệu M1 gửi đi giám định.
Gói thứ hai chất bột dạng cục mầu trắng có trọng lượng là 0,025gam, trích 0,025gam kí hiệu M2 gửi đi giám định.
Đối với 14 gói thu giữ tại nhà T:
Cân lần 1 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,195gam, trích 0,055gam gửi đi dám định kí hiệu M3.
Cân lần 2 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,175gam, trích 0,025gam gửi đi dám định kí hiệu M4.
Cân lần 3 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,22gam, trích 0,035gam gửi đi dám định kí hiệu M5.
Cân lần 4 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,215gam, trích 0,03gam gửi đi dám định kí hiệu M6.
Cân lần 5 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,19gam, trích 0,025gam gửi đi dám định kí hiệu M7.
Cân lần 6 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,2gam, trích 0,025gam gửi đi dám định kí hiệu M8.
Cân lần 7 (2 gói) chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,205gam, trích 0,04gam gửi đi dám định kí hiệu M9.
Tại bản kết luận giám định số: 179/GĐMT ngày 08/09/2015, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận "Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M1, M2, M3, M4,M5,M6,M7,M8,M9 thu giữ của Nguyễn Đức T gửi tới giám định đều có thành phần là Hrroin”. Hàm lượng Heroin cụ thể như sau:
Mẫu M1: 71,7%, M2: 77,2%, M3: 73,0%, M4: 71,0%, M5: 71,9%, M6: 73,9%, M7: 73,9%, M8: 70,4%, M9: 70,8%. Như vậy tổng trọng lượng Heroin thu giữ của T là 1,105 gam.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 99/CT- VKS ngày 22.06.2016, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm p khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm p khoản 2 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự (năm 2015), điểm b khoản 1 điều nghị quyết 109/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 và điểm a khoản 4 điều 1 Nghị quyết 144/QH13 ngày 29 tháng 06 năm 2016 của Quốc hội xử phạt Nguyễn Đức T từ 6 năm đến 7 năm tù.
Tại phiện tòa bị cáo trình bày, bị cáo bị bệnh lao nặng, sức khỏe yếu mong Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đức T khai và thừa nhận: Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 05/09/2016, tại khu vực đường Vân Giang- phố 10, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, Bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,109 gam Heroin và Bị cáo cất giữ 0,996 gam Heroin tại nơi ở (Phố Tây Sơn, phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình). Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản sự việc ngày 05 tháng 09 năm 2016, biên bản khám xét, biên bản cân xác định trọng lượng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã được xem xét công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử kết luận Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo phạm tội mới trong khi đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm p khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nước đối với chất ma túy – Một khách thể được luật hình sự bảo vệ vì vậy việc đưa ra truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo có biểu hiện mắc bệnh lao nặng (nôn ra máu), sức khỏe yếu, Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy tội danh, loại, hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần phải xử phạt bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tại thời điểm xét xử bị cáo, theo quy định tại khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt thấp hơn tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có lợi cho người phạm tội, căn cứ nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 06 năm 2016 của Hội đồng Thẩm phán và Nghị quyết 144/QH13 ngày 29 tháng 06 năm 2016 của Quốc hội hướng dẫn khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 hướng dẫn áp dụng khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt quy định tại khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự (năm 2015) để xử phạt bị cáo cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Về xử lý vật chứng: Số chất bột kết tinh màu trắng có chứa thành phần Heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi đi giám định là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 bình thủy tinh nắp bình có cắm ống thủy tình hình tròn, 01 vòi nhựa dài khoản 40cm, 04 ống thủy tinh dài khoản 20cm, 05 bật lửa ga, 20 bơm kim tiêm không còn giá trị sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức T cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án có một người bán Heroin cho bị cáo, bị cáo không quen biết, không rõ người này cụ thể ở đâu nên không có cơ sở điều tra để xử lý.
Đối với chiếc xe môtô Honda Future 59N1-493.70, của T dùng làm phương tiện đi lại nên cơ quan điều tra trả lại cho T là có căn cứ.
Đối với số tiền 3.300.000đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo đây là số tiền của chị Nguyễn Thị Th không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Th là có căn cứ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm p khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 5 (năm) năm, 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/03/2016.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số chất bột kết tinh màu trắng có chứa thành phần Heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi đi giám định (cùng giấy gói); 01 bình thủy tinh nắp bình có cắm ống thủy tình hình tròn, 01 vòi nhựa dài khoản 40cm, 04 ống thủy tinh dài khoản 20cm, 05 bật lửa ga, 20 bơm kim tiêm thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức T. Cụ thể chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 07 năm 2016 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng điều 5; khoản 1 điều 20, khoản 1 điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Án xử sở thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Ninh Bình. - VKSND- TPNinh Bình. - Bị cáo. - THA- CA.TPNB. - Lưu HS. | (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |