vanban.org

Bản án 101a/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Hà, cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Lê Văn C.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Hà - Lê Văn Chinh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Hà, cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI LỘC
TỈNH QUẢNG NAM
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 101a/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Nghĩ;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Lê Thị Kim Phụng;

2. Ông: Trần Thị Lệ Thuỷ;

Thư ký phiên tòa: Ông Mạc Văn Hinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Lộc;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 269/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về “ Tranh chấp ly hôn”, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Hoà Hữu T, xã Đại H, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Hội Khánh Đ, xã Đại S, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2022, bản tự khai, các lần hòa giải và tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày:

Chị Ngô Thị H và anh Lê Văn Ch tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc vào năm 2022. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc. Theo lời khai của chị H, anh Ngô Văn C uống rượu đánh đập chị và đập phá tài sản trong gia đình. Hiện nay chị và anh C không còn sống chung từ năm 2021. Nay chị Ngô Thị H làm đơn yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh Lê Văn C.

Chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C có 03 con chung: Lê Văn Q, sinh ngày 14/02/2003; Lê Thị T, sinh ngày 16/6/2006 và Lê Thị Kim N, sinh ngày 18/8/2016; Chị Hà xin trực tiếp nuôi Lê Thị Kim Ng, để anh Lê Văn Chinh nuôi Lê Thị T. Riêng Lê Văn Q đã thành viên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Văn C: Anh Lê Văn C mặc dù Toà án đã thông báo về thụ lý vụ án, thông báo cho anh được tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Chinh không đến Toà án. Anh Lê Văn C không làm bản tự khai, Toà án cũng không thể lấy lời khai.

Qua xác minh cha ruột của anh Lê Văn C: Cho thấy giữa chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C mâu thuẩn kéo dài. Chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C không còn sống chung, tình cảm vợ chồng, kinh tế gia đình, chăm sóc các con mỗi người tự lo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm tại phiên toà:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Văn Chinh không đến toà tham gia hoà giải, không tham gia phiên toà mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà không có đương sự nào khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do đó đều đảm bảo hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Lê Văn C. Căn cứ các Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình để chị Hà tiếp tục trực tiếp nuôi Lê Thị Kim N; anh Lê Văn C tiếp tục nuôi Lê Thị T cho đến khi thành niên.

Riêng Lê Văn Q đã thành viên nên tự quyết định ở với ai, Toà án không xem xét giải quyết.

Đối với tài sản chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Yêu cầu của nguyên đơn chị Ngô Thị H tại phiên toà. Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[ 1 ] Trong quá trình thụ lý, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà không có đương sự nào khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[ 2 ] Anh Lê Văn C không có bản tự khai, hay Toà án không thể lấy lời khai là không do trở ngại khách quan hay sự bất khả kháng. Anh Lê Văn C không tham gia cuộc họp tiếp cập chứng cứ cũng như phiên hoà giải, không tham gia phiên toà do anh Lê Văn C cố tình vắng mặt. Tòa án đã tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng, xử vắng mặt anh Lê Văn C đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

[ 3 ] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đại S, huyện Đại Lộc, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 18 tháng 1 năm 2002 là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ lời của chị Ngô Thị H, chị và anh C sống vợ chồng không hạnh phúc. Năm 2022, chị H đã khởi kiện ly hôn, nhưng anh C không đến Toà và vì các con, chị rút đơn khởi kiện, Toà án đã ra Quyết định đình chỉ vụ án. Sau khi rút đơn, vợ chồng chị H và anh C tiếp tục mâu thuẩn, chị Hà bỏ nhà đi cho đến nay không về nhà. Chị Ngô Thị H vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn với anh Lê Văn C.

[ 4 ] Toà án sau khi thụ lý vụ án đã nhiều lần thông báo cho anh Lê Văn C biết tiếp cận chứng cứ, tham gia hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, anh Lê Văn C cố tình không đến Toà án tham gia hoà giải làm cho mâu thuẩn vợ chồng càng trầm trọng hơn. Lời khai của chị Hà phù hợp với xác minh cha ruột của anh Lê Văn C vợ chồng chị H và anh C mâu thuẩn, chị H bỏ nhà đi không về.

Hội đồng xét xử xét thấy rằng tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, nếu bác yêu cầu xin ly hôn của chị Hà, thì chị H cũng không trở về xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Ngô Thị H ly hôn với anh Lê Văn C là phù hợp với quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Hà và anh Lê Văn Chinh chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[ 5 ] Về con chung: Chị Ngô Thị Hà và anh Lê Văn C có 03 con chung: Lê Văn Q, sinh ngày 14/02/2003; Lê Thị T, sinh ngày 16/6/2006 và Lê Thị Kim N, sinh ngày 18/8/2016. Chị Ngô Thị Hà đang trực tiếp nuôi Lê Thị Kim N; anh Lê Văn C đang trực tiếp nuôi Lê Thị T, nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị H và phù hợp nguyện vọng của các con. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình, để Hà tiếp tục trực tiếp nuôi Lê Thị Kim Ngân; anh Lê Văn Chinh tiếp tục nuôi Lê Thị T cho đến khi thành niên. Riêng Lê Văn Q đã thành viên nên tự quyết định ở với ai, Toà án không xem xét giải quyết.

[ 6 ] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, nếu sau này tranh chấp có quyền khởi kiện chia tài sản sau ly hôn theo quy định của pháp luật dân sự.

[ 7 ] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn số tiền: 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toa án số: 0003935, ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, Điều 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81 và 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Hà, cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Lê Văn C.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Lê Văn C chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

- Ngô Thị Hà tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Lê Thị Kim N, sinh ngày 18/8/2016 cho đến khi thành niên.

- Anh Lê Văn C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Lê Thị T, sinh ngày 16/6/2006 cho đến khi thành niên.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và có quyền thăm con, chăm sóc giáo dục con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền con trở.

3.Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Toà án không xem xét nếu sau này tranh chấp có quyền khởi kiện chia tài sản sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn số tiền: 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toa án số: 0003935, ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân tỉnh Quảng Nam xử phúc thẩm; anh Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án, hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ