vanban.org

Bản án 1019/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai thị thanh tâm - Huang Jia Ju"
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1019/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Hễ

2/ Bà Nguyễn Thị Nở

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 284/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/6/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1841/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6939/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thị Thanh T, sinh năm 1991

Địa chỉ: N, Phường J, Thành phố H.

Bị đơn: Ông Huang Jia Ju, sinh năm 1982

Địa chỉ: 56/14F, Đoạn 1, Lộ Kim Thành, khóm 011, phường Bì Đường, khu Thổ Thành, Đài Bắc, Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Mai Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Huang Jia Ju tự nguyện kết hôn vào năm 2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 09/2017 do Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cấp vào ngày 20/01/2017 (Theo trích lục kết hôn số 34/TLKH-BS ngày 27/02/2020 do Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cấp).

Sau khi kết hôn hai bên không chung sống với nhau do ông Huang Jia Ju phải trở về Đài Loan sinh sống và làm việc. Trong thời gian ông Huang Jia Ju ở Đài Loan hai bên vẫn liên lạc với nhau bình thường qua điện thoại, tuy nhiên do bất đồng về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2018 hai bên bắt đầu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể tiếp tục nói chuyện với nhau, ông Huang Jia Ju chủ động cắt liên lạc với bà, bà đã nhiều lần tìm cách liên hệ với ông Huang Jia Ju nhưng không được. Do hai bên sống cách xa nhau nên không có thời gian quan tâm, chăm sóc và cùng nhau giải quyết mâu thuẫn nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Thực tế hai bên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Hiện giữa bà và ông Huang Jia Ju không còn liên lạc và cũng không quan tâm đến đời sống của nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Huang Jia Ju để có điều kiện ổn định cuộc sống. Về con chung: Không có Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có. Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông Huang Jia Ju đang cư trú tại Đài Loan. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Mai Thị Thanh T và ông Huang Jia Ju đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Mai Thị Thanh T, cho bà Mai Thị Thanh T được ly hôn với ông Huang Jia Ju; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Tâm xác định không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Mai Thị Thanh T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Huang Jia Ju hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Mai Thị Thanh T tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2023, lần hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 20/6/2023 nhưng bà Mai Thị Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với ông Huang Jia Ju, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 284/TB-TLVA ngày 17/6/2022 cho ông Huang Jia Ju theo Công văn số 563/TTTPDS-TA30 ngày 08/8/2022 đề nghị tống đạt văn bản trên cho ông Huang Jia Ju theo quy định của pháp luật. Theo Công hàm số 2834/CH-BTP ngày 26/9/2022 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 219/BTP-PLQT ngày 16/02/2023 thông báo về kết quả ủy thác tư pháp cho ông Huang Jia Ju như sau: Gửi hồ sơ ủy thác cho người làm thuê của đương sự.

Tuy nhiên, đến nay không thấy ông Huang Jia Ju có thông tin phản hồi. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 23/5/2023 nhưng do ông Huang Jia Ju vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 20/6/2023. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông Huang Jia Ju vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2017 do Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cấp vào ngày 20/01/2017 (Theo trích lục kết hôn số 34/TLKH-BS ngày 27/02/2020 do Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cấp) thì quan hệ hôn nhân của bà Mai Thị Thanh T và ông Huang Jia Ju là hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày, sau khi kết hôn hai bên không chung sống với nhau do ông Huang Jia Ju phải trở về Đài Loan sinh sống và làm việc. Trong thời gian ông Huang Jia Ju ở Đài Loan hai bên vẫn liên lạc với nhau bình thường qua điện thoại, tuy nhiên do bất đồng về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2018 hai bên bắt đầu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể tiếp tục nói chuyện với nhau. Do hai bên sống cách xa nhau nên không có thời gian quan tâm, chăm sóc và cùng nhau giải quyết mâu thuẫn nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay bà Tâm nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn nên bà Tâm yêu cầu được ly hôn với ông Huang Jia Ju. Về phía ông Huang Jia Ju, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp và thông báo ngày giờ mở phiên tòa xét xử cho ông Huang Jia Ju theo quy định pháp luật văn bản thông báo của Tòa án đã được Gửi hồ sơ ủy thác cho người làm thuê của đương sự vào ngày 05/01/2023 nhưng đến nay ông không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ ông Huang Jia Ju không còn quan Tâm đến cuộc hôn nhân này nữa.

Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan Tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay bà Mai Thị Thanh T xác định tình cảm giữa bà Tâm và ông Huang Jia Ju không còn do điều kiện sinh sống xa cách, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó bà Mai Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Huang Jia Ju là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Mai Thị Thanh T xác định không có nên không xét. [4] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Mai Thị Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật. [5] Về quyền kháng cáo: Bà Mai Thị Thanh T và ông Huang Jia Ju có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; các Điều 40, 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thanh T. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Thanh T được ly hôn với ông Huang Jia Ju. 2. Về con chung: Không có 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. 4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Mai Thị Thanh T phải nộp được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Tâm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0002429 ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Mai Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bà Mai Thị Thanh T được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Huang Jia Ju có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ