vanban.org

Bản án 1013/2020/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/11/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Phú K. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 439/2020/HNGĐ-ST ngày 05/8/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Trương Phú K"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1013/2020/HNGĐ-PT
Ngày: 03-11-2020
V/v tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Uyên

Các Thẩm phán:

Bà Quách Thanh Bình

Bà Đoàn Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Huỳnh Duy Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2020/TLPT-HNGĐ ngày

16 tháng 9 năm 2020 về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con

sau khi ly hôn”.

Do Bản án sơ thẩm số 439/2020/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2020

của Tòa án nhân dân Quận L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5173/2020/QĐ-PT

ngày 12 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Phú K, sinh năm 1980.

Địa chỉ: S1/32 cư xá S, Phường 12, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1993.

Địa chỉ thường trú: 40 Ấp 4, xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Địa chỉ liên lạc: 59 đường D, Phường 10, Quận L, Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Phú K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn ông Trương Phú K trình bày:

Ông và bà Lê Thị Cẩm H trước đây đã ly hôn theo Bản án số

814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận L, con chung có một trẻ tên Trương Bảo K, sinh ngày 28/11/2016 giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, trẻ Trương Bảo K vẫn sống cùng với ông và ông bà nội và do gia đình ông trực tiếp chăm sóc. Trẻ K được đi học và phát triển tâm lý rất tốt. Đối với bà H, bà không có ý định nuôi trẻ K. Thời gian đầu, thỉnh thoảng cuối tuần ông chở trẻ K về Long An cho bé gặp mẹ và thăm ông bà ngoại, tuy nhiên có lần bà H đến nhà ông thăm trẻ K đã có lời lẽ xúc phạm mẹ của ông nên gia đình ông không cho bà H đến nhà thăm trẻ K nữa. Sau đó mỗi lần bà H muốn gặp con thì ba của ông sẽ chở trẻ K ra công viên cho bà H gặp. Từ Tết nguyên đán đến nay gia đình ông không cho bà H gặp con nữa vì bà H dọa sẽ bắt trẻ K đi. Nay ông yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Trương Bảo K và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn bà Lê Thị Cẩm H trình bày:

Bà xác nhận việc ly hôn và được quyền nuôi con chung tên Trương Bảo K

theo Bản án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận L đúng như ông Trương Phú K trình bày. Tuy nhiên, ông K không giao con cho bà nuôi dưỡng, bà đến nhà ông K để gặp con và yêu cầu ông K giao con nhưng lần nào nhà ông K cũng khóa cửa, những lần sau bà không được gặp con ở nhà ông K mà chỉ được gặp ở công viên hoặc siêu thị, vào dịp Tết bà cũng không được gặp con.

Khi bà nộp đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự Quận L thi hành Bản

án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận L, bà mới được vào nhà ông K để thăm con dưới sự chứng kiến của cơ quan thi hành án và chính quyền địa phương. Như vậy, dù bản án ly hôn đã giao con cho bà nuôi dưỡng nhưng bà chưa thực hiện được quyền nuôi con, đồng thời việc thăm con cũng rất khó khăn.

Nay ông K yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, bà không đồng ý vì hiện tại

bà có việc làm ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.

Tại Bản án sơ thẩm số 439/2020/HNGĐ-ST ngày 05/8/2020, Tòa án cấp

sơ thẩm đã căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Phú K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/8/2020, ông Trương Phú K nộp đơn kháng cáo bản án.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu được nuôi con chung tên Trương Bảo K

với lý do ông có điều kiện kinh tế để nuôi con và còn được ông bà nội hỗ trợ, trẻ

sống với gia đình ông phát triển tâm lý rất tốt. Về phía bà Lê Thị Cẩm H không

có thu nhập và nhà ở ổn định để nuôi con.

- Bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Về phía các

đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự

quy định.

Về nội dung: Bản án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án

nhân dân Quận L đã quyết định giao con chung tên Trương Bảo K cho bà Lê Thị

Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, ông Trương Phú K không giao con,

không chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, ngăn cản bà H thực hiện

quyền nuôi con và thăm con, điều này làm ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ. Do đó,

nay ông K yêu cầu thay đổi quyền nuôi con là không có cơ sở chấp nhận. Đề

nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Phú K, giữ nguyên bản án sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trương Phú K

kháng cáo yêu cầu được nuôi con chung, các nội dung khác không có đương sự

nào kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc

thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác

không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét.

Về nội dung: Ông Trương Phú K và bà Lê Thị Cẩm H trước đây đã ly

hôn theo Bản án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân

Quận L, về con chung có một trẻ tên Trương Bảo K, sinh ngày 28/11/2016 giao

cho bà Lê Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét kháng cáo của ông Trương Phú K yêu cầu thay đổi quyền nuôi

con chung tên Trương Bảo K, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Theo Bản án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân

dân Quận L, bà Lê Thị Cẩm H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên

Trương Bảo K. Hiện nay bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật nhưng

bà H chưa thực hiện được quyền nuôi con mà con chung vẫn do ông K trực tiếp

nuôi dưỡng và ông K không tạo điều kiện cho bà H thực hiện quyền của mình. Về vấn đề này, Chi cục Thi hành án dân sự Quận L đã có Quyết định số 1051/QĐ-CCTHADS ngày 22/5/2020 cho thi hành án đối với ông K về việc giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trương Bảo K.

Hội đồng xét xử xét, ông Trương Phú K ngoài việc không chấp hành bản án

đã có hiệu lực pháp luật, còn có hành vi cản trở bà H thực hiện quyền thăm nom con thể hiện qua những lần ông không cho bà H gặp con hoặc không cho bà H đem con về nhà bà H chơi vì sợ bà H giữ con không giao lại cho ông. Điều này cho thấy ông K không có thiện chí trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Hiện tại ông K và bà H không có thỏa thuận về việc thay đổi người trực

tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Đồng thời, ông K không thực hiện Bản án số 814/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018, không giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên chưa đủ căn cứ cho rằng bà H nuôi con không tốt hoặc bà H có vấn đề về lối sống hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con vì bà H hiện có việc làm ổn định, có thu nhập hàng tháng.

Từ những nhận định trên, nhận thấy kháng cáo của ông Trương Phú K là

không có căn cứ chấp nhận, nghĩ cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên đương sự

kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Phú K.

2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 439/2020/HNGĐ-ST ngày 05/8/2020

của Tòa án nhân dân Quận L, như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Phú K về việc thay

đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm

nom con của người đó.

Khi có căn cứ, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5

Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp

nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp

dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Ông Trương Phú K phải nộp 300.000 đồng, được trừ

vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0010252 ngày

28/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận L. Ông Trương Phú K đã nộp

đủ án phí sơ thẩm.

- Án phí phúc thẩm: Ông Trương Phú K phải nộp 300.000 đồng, được trừ

vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0010491 ngày

18/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận L. Ông Trương Phú K đã nộp

đủ án phí phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật

Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ