vanban.org

Bản án 1010/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của Uỷ ban nhân dân huyện Côn Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 136/2022/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B như sau:

Đình chỉ yêu cầu của người khởi kiện về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 16/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ thu hồi 841,6m2 đất của hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đảo. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn Á kiện Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định…"
  • Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của Uỷ ban nhân dân huyện Côn Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 136/2022/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…; Điều 79 Luật Đất đai; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1010/2023/HC-PT
Ngày 28/11/2023
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý

Các thẩm phán:

Ông Ngô Mạnh Cường

Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Cao Minh Trí - Kiểm sát viên cao cấp.

Trong các ngày 27, 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 284/2023/TLPT-HC ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 136/2022/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 5726/QĐPT-HC ngày 25 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1971; cư trú tại: Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Á: Ông Nguyễn Đăng C, sinh năm 1972 và bà Dương Thị V, sinh năm 1995; cùng địa chỉ: Số 01/9A đường s 45, khu p 2, phường Hiệp Bình Ch, thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 02/11/2021); có mặt.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Lê Văn Ph - Chủ tịch Ủy ban nhân huyện Côn Đ là người đại diện theo pháp luật; có đơn xin xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: - Ông Trần Văn M - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Côn Đ; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Chí C - Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Côn Đ; có mặt.

Cùng địa chỉ: 28 Tôn Đức Th, huyện Côn Đ, tỉnh B.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1974; cư trú tại: Khu dân cư s 7, huyện Côn Đ, tỉnh B.

- Người kháng cáo: UBND huyện Côn Đ, tỉnh B là người bị kiện trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện thống nhất trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất bị thu hồi 898,6m2; gồm 841,6m2 (thu hồi lần 1) và 6,9m2 và 50,1m2 (thu hồi lần 2) thuộc thửa 113, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại đường Nguyễn Văn L, Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn Á khai phá từ cuối năm 1992 có dựng một căn nhà để ở và nhập khẩu tại thửa đất này ngày 03/3/1993. Năm 2009 hộ ông Nguyễn Văn Á được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất đối với phần diện tích 848,6m2 thuộc thửa 113, tờ bản đồ số 25 (nay thuộc một phần thửa 14, tờ bản đồ số 13) tuy nhiên do quá trình đo đạc cấp giấy có sai sót nên phần diện tích 50,1m2 vẫn được đo đạc, cắm ranh nhưng chưa được cập nhật trong giấy chứng nhận. Hộ ông Nguyễn Văn Á vẫn trực tiếp quản lý sử dụng phần diện tích này sử dụng, không thay đổi ranh giới thửa đất từ năm 1993 cho đến nay.

Để triển khai dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ tiến hành thu hồi đất của hộ ông Á, thu hồi toàn bộ diện tích 898,6m2 do hộ ông Á đang quản lý sử dụng và thu hồi nhà ở trên đất bằng Quyết định số: 16/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 và Quyết định bổ sung số: 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021, tuy nhiên khi thu hồi đất của người dân, Ủy ban nhân dân (nay viết vắt là UBND) huyện Côn Đ không bồi thường về đất (phần 50,1m2), không bồi thường nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, không giải quyết bố trí tái định cư cho hộ ông Á, khi không còn chỗ ở nào khác là trái quy định, làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông Á, cụ thể:

Thứ nhất: Đầu những năm 1990 theo chính sách kêu gọi dân bám đảo, phát triển kinh tế biển đảo quê hương, ông Á từ quê hương Thái B ra Côn Đ để lập nghiệp sinh sống công tác tại Vườn quốc gia Côn Đ. Cuối năm 1992 đầu năm 1993, ông Á khai phá phần đất khoảng gần 900m2 thuộc thửa đất số 113, tờ bản đồ số 25 nay thuộc một phần thửa 14, tờ bản đồ số 13 tại đường Nguyễn Văn L, Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ để cất nhà ở và sinh sống ổn định liên tục cho đến nay. Thời điểm khai phá, tạo lập nhà ở, các hộ dân sinh sống lâu năm và giáp ranh tại địa phương như ông Nguyễn Văn Th, ông Nguyễn Văn C đều biết rõ và thống nhất ký vào đơn xác nhận ngày 08/8/2021. Từ đầu năm 1993 cho đến nay, hộ ông Á vẫn giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất, không lấn chiếm hay mở rộng diện tích đất khai phá. Năm 2009, hộ ông Á nộp hồ sơ xin cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ phần diện tích đất đang sử dụng khoảng gần 900m2 trong đó có diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại đường Nguyễn Văn L, Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ (Theo trích lục Bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Côn Đ trích lục ngày 25/11/2019). Tuy nhiên, trong quá trình đo đạc cấp GCNQSD đất có sai sót nên phần diện tích 50,1m2 vẫn được đo đạc, cắm ranh có hàng rào lưới B40 gia đình ông Ánh quản lý sử dụng, tuy nhiên chưa được công nhận và cập nhật trong GCNQSD đất của ông Á. Đây là phần trước sân nhà do hộ ông Ánh trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 1993 cho đến nay làm lối đi chính và duy nhất ra đường Nguyễn Văn L. Do đó, phần diện tích đất này đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định tại Điều 20 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 2 Điều 12 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014.

Thứ hai: Năm 1993, ông Á tạo lập căn nhà trên đất để ở sau khi tạo dựng nhà ở hộ ông Nguyễn Văn Á được chính quyền địa phương cho nhập khẩu tại thửa đất này vào ngày 03/3/1993 (có sổ hộ khẩu kèm theo hồ sơ) và sinh sống cho đến nay, không có tranh chấp. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất có nhà ở từ trước ngày 15/10/1993 nay xác nhận không có tranh chấp, diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở (300m2). Như vậy, hộ ông Á đủ điều kiện để được bồi thường đối với nhà ở và tài sản gắn liền với nhà ở, tổng diện tích được bồi thường 246,89m2 tuy nhiên khi thu hồi nhà, đất hộ ông Á không được bồi thường về nhà ở là trái quy định pháp luật, làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông Á.

Thứ ba: Sau khi có quyết định thu hồi đất, ông Á có đơn khiếu nại đề ngày 01/3/2021 gửi Chủ tịch UBND huyện Côn Đ xem xét giải quyết nâng mức giá bồi thường và bố trí tái định cư tại chỗ cho hộ ông Á do khó khăn về chỗ ở, không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn huyện Côn Đ. Nội dung Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 679/QĐ-UBND ngày 15/7/2021 (Viết tắt là Quyết định số 679) cho rằng ông Á bị thu hồi 100% diện tích đất nông nghiệp, không bị thu hồi đất ở nên không đủ điều kiện bố trí tái định cư là nhận định thiếu khách quan, không có căn cứ, UBND huyện Côn Đ không xem xét nhà ở tạo lập năm 1993 đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và đủ điều kiện để được bố trí tái định cư theo quy định tại Điều 79 Luật đất đai 2013 và Điều 6 Nghị định số: 47/NĐ-CP ngày 15/5/2014. Đối với dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ hộ ông Á tuân thủ pháp luật, chủ trương chính sách của địa phương, tuy nhiên khi thu hồi đất cần xem xét đến quá trình quản lý, sử dụng đất của người dân, thời điểm tạo lập nhà ở và quy định của pháp luật hiện hành khi thu hồi đất. UBND huyện Côn Đ ban hành các quyết định thu hồi đất nhưng không bồi thường hết diện tích đất do hộ ông Á khai phá sử dụng từ năm 1993, không bồi thường về nhà ở tạo lập năm 1993 và giải quyết bố trí tái định cư cho hộ ông Á khi hộ không còn chỗ ở là trái quy định pháp luật, cần được giải quyết. Sau khi ông Á nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh B, đến ngày 16/11/2021 UBND huyện Côn Đ tiếp tục ban hành Quyết định thu hồi đất số 1196/QĐ-UBND (Gọi tắt là Quyết định số 1196) đã đền bù bổ sung gồm 6,9m2 thuộc một phần thửa 14 (113), tờ bản đồ số 13 (25) tại đường Nguyễn Văn L, khu dân cư số 07 huyện Côn Đ, tỉnh B; nhưng không bồi thường diện tích 50,1m2 đất, không bồi thường về nhà ở, vật kiến trúc công trình tài sản gắn liền với đất, không bố trí tái định cư cho hộ ông Á, trong khi hộ ông Á không còn chỗ ở nào khác là trái quy định, làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông Á.

Bởi lẽ: Từ năm 1993 cho đến nay, hộ ông Á vẫn giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất, không lấn chiếm hay mở rộng diện tích đất khai phá. Năm 2009 hộ ông Á nộp hồ sơ xin cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ phần diện tích đất đang sử dụng khoảng hơn 800m2 trong đó có phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại đường Nguyễn Văn L, khu dân cư số 7, huyện Côn Đ (Theo trích lục Bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Côn Đ trích lục ngày 25/11/2019). Tuy nhiên trong quá trình đo đạc cấp GCNQSD đất có sai sót nên phần diện tích 50,1m2 vẫn được đo đạc, cắm ranh nhưng không được cập nhật trong giấy chứng nhận là lỗi khách quan không thuộc lỗi của ông Á. Phần diện tích này vẫn do hộ ông Á trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 1993 cho đến nay, không có tranh chấp, đủ điều kiện bồi thường theo luật định nhưng không được UBND huyện Côn Đ bồi thường là trái quy định, làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Á, cần được giải quyết. Tài sản gắn liền với đất: Căn nhà cấp 4 để ở và kinh doanh diện tích khoảng 250m2 được tạo lập năm 1993 và sửa chữa năm 2012.

* Ông Nguyễn Văn Á có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định số: 16/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện Côn Đ về việc thu hồi 841,6m2 đất của hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Viết tắt là Quyết định số 16);

- Hủy Quyết định số: 20/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đảo (Viết tắt là Quyết định số 20);

- Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số: 679/QĐ-UBND ngày 15/07/2021 của Chủ tịch UBND huyện Côn Đ về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Nguyễn Văn Á và bà Phạm Thị Th thường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ khiếu nại về việc thu hồi đất (Viết tắt là Quyết định số 679);

- Hủy Quyết định thu hồi đất số: 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện Côn Đ về việc thu hồi phần diện tích 57m2 của hộ ông Nguyễn Văn Á - thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Viết tắt là Quyết định số 1188);

- Hủy Quyết định số: 1196/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á - thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Viết tắt là Quyết định số 1196);

- Buộc UBND huyện Côn Đ phải bố trí tái định cư tại chỗ cho hộ ông Á, bồi thường về đất đối với phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại đường Nguyễn Văn L, Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, bồi thường nhà ở, đất ở, công trình, tài sản khác gắn liền với đất, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần diện tích đất 898,6m2 thuộc các thửa 14, 121 tờ bản đồ số 13 sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

- Hủy Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 18/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á - thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B (Viết tắt là Quyết định số 756);

- Hủy một phần Quyết định số: 1921/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của UBND huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Bổ sung) hủy phần mục 4 về bồi thường, hỗ trợ đất ở, nhà ở tái định cư;

- Buộc UBND huyện Côn Đ phải bồi thường về nhà ở, đất ở, vật kiến trúc, công trình, tài sản khác gắn liền với đất, bố trí tái định cư tại chỗ cho hộ ông Á theo đúng quy định.

Người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

* Về hồ sơ thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á và bà Phạm Thị Th.

Căn cứ Quyết định số 3104/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của UBND huyện Côn Đ được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 546/QĐ-UBND ngày 12/3/2019.

Căn cứ Quyết định số 1888/QĐ-UBND ngày 25/7/2019 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công - dự toán xây dựng công trình hạ tầng: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

Căn cứ Kế hoạch số 268/KH-UBND ngày 29/11/2019 của UBND huyện Côn Đ về việc ban hành Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khi tái định cư trung huyện Côn Đ. Căn cứ tiến độ sử dụng đất đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

- Ngày 19/12/2019, UBND huyện Côn Đ ban hành Thông báo số 474/TB-UBND thông báo thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn Á - thường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

- Ngày 22/7/2020, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2071/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

- Ngày 13/01/2021, UBND huyện Côn Đ ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc thu hồi 841,6m2 đất của hộ ông Nguyễn Văn Á - thường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đảo.

- Ngày 13/01/2021, UBND huyện Côn Đảo ban hành Quyết định số 19/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (đợt 1).

- Cùng ngày 13/01/2021, UBND huyện Côn Đ ban hành Quyết định số 20/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (đợt 1).

* Về việc yêu cầu bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi.

- Căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013, quy định về Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

- Căn cứ khoản 2, Điều 3 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh B ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh B (đã được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND ngày 16/8/2016 của UBND tỉnh B), theo đó quy định: “2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Theo báo cáo của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện tại công văn số 93/PTQD ngày 12/5/2021, thì: “về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì người có đất bị thu hồi phải được ưu tiên bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng theo hình thức “đất đổi đất”. Tuy nhiên, quỹ đất công tại huyện Côn Đ không đáp ứng được yêu cầu bồi thường bằng đất cho tất cả các đối tượng bị thu hồi đất trên địa bàn huyện mà phải áp dụng phương thức bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Do đó, nội dung khiếu nại yêu cầu bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi của gia đình ông Á và bà Phạm Thị Th là không thể giải quyết, do quỹ đất công của huyện Côn Đ không đáp ứng được yêu cầu, không có quỹ đất để thực hiện việc bồi thường bằng đất.

* Về việc yêu cầu bồi thường tái định cư.

Theo nội dung Quyết định số 16 về việc thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn Á thì gia đình ông Ánh bị thu hồi 841,6 m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa đất số 14 - tờ bản đồ địa chính số 13 (thuộc thửa đất số 113 - tờ bản đồ địa chính số 25 theo GCNQSD đất số A0 467642), tại tuyến đường Nguyễn Văn L - Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ.

- Căn cứ khoản 1, Điều 79 Luật Đất đai 2013 quy định việc Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, …. mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền; ….”.

- Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 83 Luật Đất đai 2013 quy định về Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: “c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở”.

- Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định việc Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, như sau: “Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, … khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có GCNQSD đất hoặc đủ điều kiện để được cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư”.

Hộ ông Á và bà Th bị thu hồi 841,6m2 đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (theo GCNQSD đất), không bị thu hồi đất ở, do đó, không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và không đủ điều kiện hỗ trợ tái định cư theo quy định nêu trên.

* Về việc đề nghị giao đất ở tại chỗ để ổn định cuộc sống, sản xuất kinh doanh, do gia đình ông Nguyễn Văn Á khó khăn về nơi ở.

Theo báo cáo của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện tại công văn số 64/PTQĐ ngày 30/3/2021 về việc ý kiến về yêu cầu giải quyết khiếu nại của hộ ông Á và bà Th; theo đó có nêu: “hộ ông Nguyễn Văn Á và bà Phạm Thị Th bị thu hồi diện tích 841,6 m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 113 - tờ bản đồ địa chính số 25 tại tuyến đường Nguyễn Văn L - Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ. Hộ thuộc diện phải di chuyển chỗ ở khi bị thu hồi đất (có nhà ở trên đất nông nghiệp) và không còn đất ở nào khác trên địa bàn huyện (theo xác nhận của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại công văn số 240/CV-CNVPĐK ngày 17/4/2020)”.

- Căn cứ khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai 2013 quy định việc Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở: “2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”.

- Căn cứ khoản 4, Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định như sau: “4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do UBND cấp tỉnh quy định”.

- Từ những phân tích nêu trên, việc Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ và Chủ tịch UBND huyện Côn Đảo ban hành các Quyết định bị kiện là đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời Uỷ ban nhân dân huyện Côn Đảo đã hỗ trợ cho thuê, thuê mua 01 căn nhà ở xã hội cho hộ ông Nguyễn Văn Ánh khi thu hồi đất là đảm bảo.

Vì vậy, UBND huyện Côn Đ và Chủ tịch UBND huyện Côn Đ đề nghị Tòa án bác toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á.

Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Th trình bày: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 136/2022/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 6 Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 77 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 6, Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu của người khởi kiện về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 16/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo thu hồi 841,6m2 đất của hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á:

Hủy một phần tại các quyết định bị kiện đối với nội dung: Bồi thường đất ở, bố trí tái định cư; bồi thường phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 tại đường Nguyễn Văn L, huyện Côn Đ; bồi thường nhà ở công trình, tài sản khác gắn liền với đất tại các quyết định sau:

- Quyết định số: 20/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đảo;

- Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số: 679/QĐ-UBND ngày 15/07/2021 của Chủ tịch UBND huyện Côn Đ về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Nguyễn Văn Á và bà Phạm Thị Th thường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ khiếu nại về việc thu hồi đất;

- Quyết định thu hồi đất số: 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc thu hồi phần phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 huyện Côn Đ của hộ ông Nguyễn Văn Á, thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ;

- Quyết định số: 1196/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á, thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ;

- Quyết định số: 1921/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Bổ sung) hủy phần mục 4 Điều 1 về bồi thường, hỗ trợ đất ở, nhà ở tái định cư.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ bồi thường đất ở, bố trí đất tái định cư; bồi thường phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 huyện Côn Đ; bồi thường nhà ở, công trình, tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Nguyễn Văn Á theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/02/2023 UBND huyện Côn Đảo kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á. Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi cho UBND huyện Côn Đ trình bày: Theo tài liệu thì ông Á sử dụng đất từ năm 1996, do Nhà nước giao đất; từ trước tới nay ông Ánh ở tại đường Võ Thị S. Diện tích đất thu hồi của ông Ánh sử dụng làm nhà mục đích phục vụ kinh doanh xe, không phải nhà ở Nhà nước thu hồi đất trồng CLN, đã bồi thường đúng loại đất và hỗ trợ bằng 1,5 lần đất thu hồi là phù hợp; còn diện tích 50,1m2 đã hỗ trợ cho ông Á khi thu hồi làm đường, không phải đất của ông Á nên không bồi thường là phù hợp, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Á.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Á trình bày: Nguồn gốc đất do ông Á khai hoang sử dụng từ năm 1993, đến năm 1995 xây nhà để ở sau đó xây dựng thêm nơi để xe, năm 2012 ông Á bị xử phạt hành chính do xây nhà không có giấy phép. Như vậy, ông Á đã xây dựng nhà ở từ trước năm 2004 nên đủ điều kiện để bồi thường đất ở; theo điểm c khoản 2 Điều 1 Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND ngày 16/8/2016 của UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì được hỗ trợ bằng 70% mức bồi thường. Đối với diện tích 50,1m2 Nhà nước không kê khai, quản lý, mà do ông Ánh quản lý sử dụng từ năm 1996 đến nay nên phải bồi thường cho ông Á. Đề nghị bác đơn kháng cáo của UBND huyện Côn Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung kháng cáo thì thấy đất của ông Á khai hoang sử dụng từ năm 1995, đến năm 1996-1997 xây dựng nhà để ở; sau thời gian sử dụng sửa chữa nhiều lần ông Ánh sử dụng ổn định có nhà trên đất nên phải bồi thường đất ở, nhà ở công trình trên đất và tái định cư cho ông Á là phù hợp. Đối với 50,1m2 thu hồi đất ông Ánh quản lý sử dụng nên phải bồi thường cho ông Á là đúng quy định. Đề nghị bác đơn kháng cáo của UBND huyện Côn Đ giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa thấy rằng:

- Đơn kháng cáo của UBND huyện Côn Đ đúng theo quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á, đây là quan hệ hành chính, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”; đối tượng bị khiếu kiện là quyết định hành chính của UBND và Chủ tịch UBND huyện Côn Đảo; thời hiệu khởi kiện vẫn còn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B, được quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

. Theo lời trình bày của các nhân chứng Nguyễn Thị Th, ông Lưu Xuân D, bà Vũ Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N, ông Võ Đình Th thì ông Á đến Côn Đ khai hoang đất từ năm 1993; theo Đơn tường trình về việc sử dụng đất ngày 17/10/2007 của ông Ánh tự khai phá, sử dụng đất từ ngày 12/02/1995 (BL: 288) và Phiếu lấy ý kiến khu dân cư, về nguồn gốc thời điểm sử dụng đất cuộc họp thống nhất như đơn tự khai của ông Á; mục đích sử dụng đất trồng hoa màu (BL: 284). Như vậy, có căn cứ nguồn gốc đất do ông Á tự khai hoang, sử dụng từ năm 1995.

. Năm 1996-1997, ông Á xây dựng nhà ở và dùng để xe; sau một thời gian ở, sửa chữa xây dựng nhà nhiều lần nhưng Quyết định số 734/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 của UBND huyện Côn Đ giao 848,5m2 đất trồng CLN, một phần thửa 51, tờ bản đồ số 25, tại đường Nguyễn Văn L, khu dân cư số 7, huyện Côn Đ cho ông Á sử dụng (BL: 290) là không phù hợp với thực tế khách quan là đất có nguồn gốc do ông Ánh khai hoang, sử dụng từ năm 1995 và xây nhà để ở và làm nơi để xe, trước khi UBND huyện Côn Đ ban hành quyết định giao đất trồng CLN cho ông Á. Từ quyết định giao đất cho ông Ánh không phù hợp với thực tế sử dụng đất của ông Á (từ đất ở giao đất trồng CLN), nên khi UBND huyện Côn Đ cấp Giấy CNQSDĐ và cấp đổi lại Giấy CNQSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Á, bà Th sử dụng 848,7m2 đất, tại thửa 14, tờ bản đồ số 13, tại đường Nguyễn Văn L, huyện Côn Đ; mục đích đất trồng CLN (BL: 277) là không phù hợp.

. Theo các tài liệu thể hiện 848,7m2 đất, tại thửa 14, tờ bản đồ số 13, tại đường Nguyễn Văn Linh, huyện Côn Đảo mà UBND huyện Côn Đảo thu hồi của ông Ánh thuộc khu dân cư số 7 là trung tâm của huyện Côn Đ; được quy hoạch là đất khu dân cư. Do đó, mục đích của ông Á sử dụng đất làm nhà ở và công trình làm nơi để xe phù hợp với đất trung tâm huyện Côn Đ, được quy hoạch là đất khu dân cư; hiện nay gia đình ông Ánh còn phải ở nhà thuê của Nhà nước, chưa có chỗ ở nào khác, trong khi Nhà nước thu hồi toàn bộ đất của ông Á với diện tích rất lớn, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc UBND huyện Côn Đ phải bồi thường, hỗ trợ đất ở theo hạn mức tại địa phương, bồi thường nhà ở, công trình trên đất và giải quyết tái định cư cho gia đình của ông Á là có cơ sở.

. Xét Quyết định thu hồi đất số 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc thu hồi phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13, huyện Côn Đ: Diện tích đất 50,1m2 tiếp giáp với đường Nguyễn Văn L, ông Á quản lý sử dụng từ năm 1995 đến nay, trên phần đất này dùng làm lối đi vào nhà ông Á, trên đất có trồng dừa và vật kiến trúc; tại phiên tòa người bảo vệ quyền lợi cho UBND huyện Côn Đ cho rằng diện tích trên khi UBND tỉnh Bthu hồi đất của ông Á, để làm đường trục chính đã thu hồi đền bù cho ông Á xong, nay không phải bồi thường. Tuy nhiên, tại Quyết định số 14.416/QĐ.UB ngày 31/12/2003 của UBND tỉnh Bkhông ghi diện tích đất thu hồi của ông Ánh. Hơn nữa, tại Quyết định số 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện Côn Đ cũng xác định, về việc thu hồi phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13, huyện Côn Đ là của ông Á, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc UBND huyện Côn Đ phải bồi thường 50,1m2 đất cho hộ ông Á là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 77 Luật đất đất đai năm 2013.

. Đối chiếu những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy Quyết định số: 20/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số: 679/QĐ-UBND ngày 15/07/2021 của Chủ tịch UBND huyện Côn Đảo về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Nguyễn Văn Ánh và bà Phạm Thị Ththường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ khiếu nại, về việc bồi thường khi thu hồi đất; Quyết định số: 1196/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện Côn Đảo về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á; Quyết định số: 1921/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của UBND huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Bổ sung); chỉ phù hợp một phần, các nội dung không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử bị hủy bỏ, để UBND huyện Côn Đ ban hành lại quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Á đúng theo quy định của pháp luật.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và bị kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND huyện Côn Đ, không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận; không chấp nhận đơn kháng cáo của UBND huyện Côn Đ; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm (chỉ sửa cách tuyên cho đúng quyết định vụ kiện hành chính).

. Về án phí hành chính phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì UBND huyện Côn Đảo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của Uỷ ban nhân dân huyện Côn Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 136/2022/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 2 Điều 77 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 6, Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; khoản 2 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu của người khởi kiện về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 16/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ thu hồi 841,6m2 đất của hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đảo.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á:

Hủy một phần tại các quyết định bị kiện đối với nội dung: Bồi thường đất ở, bố trí tái định cư; bồi thường phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 tại đường Nguyễn Văn L, huyện Côn Đ; bồi thường nhà ở công trình, tài sản khác gắn liền với đất tại các quyết định sau:

- Quyết định số: 20/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ;

- Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số: 679/QĐ-UBND ngày 15/07/2021 của Chủ tịch UBND huyện Côn Đ về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Nguyễn Văn Á và bà Phạm Thị Th thường trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ khiếu nại về việc thu hồi đất;

- Quyết định thu hồi đất số: 1188/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc thu hồi phần diện tích 50,1m2 thuộc thửa đất 121, tờ bản đồ số 13 huyện Côn Đ của hộ ông Nguyễn Văn Á, thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ;

- Quyết định số: 1196/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á, thường trú Khu dân cư số 7, huyện Côn Đ, tỉnh B để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ;

- Quyết định số: 1921/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông Nguyễn Văn Á để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện Côn Đ (Bổ sung) hủy phần mục 4 Điều 1 về bồi thường, hỗ trợ đất ở, nhà ở tái định cư.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn Á đúng theo quy định của pháp luật.

3. Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ phải chịu 300.000 đồng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ phải chịu 300.000 đồng.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Á 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000073 ngày 26/11/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B.

II. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân huyện Côn Đ phải chịu 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000752 ngày 10/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B.

III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ