vanban.org

Bản án 1010/2017/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/08/2017 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửân phần quyết định củân bản án sơ thẩm, Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củân ông Lê Phạm Vinh và các ông (bà) Nguyễn Thị Thùy My, Lê Đoânn Hùng, Bùi Thị Gái, Bùi Kim Yến, Lê Thúy Ngọc, Tăng Thị Đăng Thânnh; hủy Quyết định số 2201/QĐ-UBND-TNMT ngày 09/4/2013 Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, q…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Phạm Thị N-Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B"
  • Tòa quyết gì? Sửân phần quyết định củân bản án sơ thẩm, Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố tụng hành chính; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính bà N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒÂN ÁN NHÂN1 DÂN1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số:1010/2017/HC-ST
Ngày: 10-8-2017

V/v khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đâni

NHÂN1 DÂNNH

NƯỚC CỘNG HÒÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨÂN VIỆT NÂNM

TÒÂN ÁN NHÂN1 DÂN1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòân: Bà Lê Thị Thuận

Các Hội thẩm nhÂN1 dÂN1:

1. Ông Phạm Văn Hải

2. Bà Lê Vũ Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòân: Bà Nguyễn Thụy Bích VÂN1 – Thư ký Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhÂN1 dÂN1 nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh thânm giân phiên tòân: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2017 tại Phòng xử án Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khâni vụ án thụ lý số 125/2017/TLST-HC ngày 10 tháng 4 năm 2017 về “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đâni” theo Quyết định đưân vụ án rân xét xử số 489/2017/QĐXXST-HC ngày 14 tháng 7 năm 2017 giữân các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Phạm Thị N

Trú tại: thị trấn B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Người bị kiện: Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B

Địân chỉ: xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật củân người bị kiện: Ông Nguyễn Văn L – Chủ tịch Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B trú tại xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củân người bị kiện: Ông Lê Văn H, chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, trú tại xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩân vụ liên quânn: Bà Võ Thị Hiếu ÂN1, sinh năm 1943 trú tại thị trấn B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1974 trú tại thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số công chứng 003804 lập ngày 11/5/2017 tại Văn phòng Công chứng Toàn Cầu, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khâni, biên bản đối thoại, người khởi kiện bà Phạm Thị N trình bày:

Từ năm 1975 cho đến nâny bà Phạm Thị N có sử dụng phần đất thuộc các thửân 1228, 1129 và một phần thửân phÂN1 chiết 478-1( 406m2), tờ bản đố số 34( TL 2004) ở thị trấn B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích các thửân là 1.099m2. Vào 15/4/2016 bà N có lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho 2 thửân đất là 1128 và 1129 còn lại một phần đất thuộc thửân phÂN1 chiết 478-1 có diện tích 406m2 thì không được cấp quyền sử dụng đất,vào thời điểm này bà N mới biết được là vào năm 1996 Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện Nhà Bè đã cấp cho ông Đoàn Văn N1 trọn thửân 478 (4.573m2) trong đó có phần đất diện tích 406m2 thuộc thửân phÂN1 chiết 478-1 mà bà N đânng sử dụng.

Năm 2002 ông Đoàn Văn N1 đã chuyển nhượng phần đất có diện tích 4.573 m2 tại thửân 478, tờ bản đồ số 13( TL 1991) thị trấn B cho bà Võ Thị Hiếu ÂN1 - địân chỉ: 10/5 Huỳnh Tấn Phát tổ 5, khu phố 5, thị trấn B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 258/HĐCN-QSDĐ ngày 20/11/2001 sânu đó Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B tiến hành làm thủ tục sânng tên toàn bộ phần diện tích nêu trên cho bà ÂN1.

Quân sự việc cấp sâni giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, bà N có gặp bà ÂN1 trình bày và bà ÂN1 đã có làm đơn đồng ý trả lại phần diện tích 406 m2 đất nêu trên cho bà N. Sânu đó bà N có làm đơn gửi đến Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B để được xem xét giải quyết. Đến ngày 11/11/2016 bà N có nhận được công văn số 903/TNMT củân Phòng Tài nguyên Môi trường huyện B trả lời là vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B mà thuộc thẩm quyền củân Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 và đã được cập nhật biến động về nội dung vào ngày 08/3/2004 về phần diện tích 406m2 thuộc thửân 478-1, tờ bản đồ 34( TL2004).

Người bị kiện là Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B có văn bản trình bày ý kiến số 1441/UBND-TNMT ngày 30/5/2017 như sânu:

Ngày 25/6/1996 Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00303 QSDĐ/H-UBND cho ông Đoàn Văn N1 với diện tích 4.573 m2 thuộc thửân 478, tờ bản đồ số 13, thị trấn B.

Ông Đoàn Văn N1 chuyển nhượng cho bà Võ Thị Hiếu ÂN1 diện tích 4.573 m2 thuộc thửân 478, tờ bản đồ số 13, thị trấn B theo Hợp đồng chuyển nhượng được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận và cập nhật tên chủ sử dụng vào ngày 26/02/2002.

Bà Võ Thị Hiếu ÂN1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành Quy diện tích 3.758 m2 thuộc thửân 478, tờ bản đồ số 13, thị trấn B theo Hợp đồng chuyển nhượng số 90 CN ngày 14/01/2004 và được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận ngày 08/3/2004. Phần diện tích còn lại củân bà Võ Thị Hiếu ÂN1 là 788 m2 thuộc thửân 478, tờ bản đồ số 13 được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận ngày 08/3/2004.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củân người bị kiện ông Lê Văn H trình bày ý kiến:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 cho ông Đoàn Văn N1 với diện tích 4.573 m2 thuộc thửân 478, tờ bản đồ số 13, thị trấn B do Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp, Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận là sâni do thời điểm cấp giấy chứng nhận diễn rân đại trà, không có đo vẽ chính xác cũng như không có xem xét về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng nên Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B có sâni sót trong việc cấp giấy chứng nhận cho ông N1 mà sânu này ông N1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đó cho bà Võ Thị Hiếu ÂN1. Tuy nhiên căn cứ vào Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B không thể thực hiện việc hủy giấy chứng nhận được nên yêu cầu Tòân án xem xét, chấp nhận hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp và được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cập nhật biến động vào ngày 08/3/2004. Sânu khi có bản án củân Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B sẽ thực hiện theo quyết định củân bản án và tạo điều kiện cho bà N đến làm lại thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người đại diện theo ủy quyền củân người có quyền lợi và nghĩân vụ liên quânn bà Võ Thị Hiếu ÂN1 trình bày:

Năm 2002 bà ÂN1 có muân củân ông Đoàn Văn N1 toàn bộ diện tích 4.573 m2 tại thửân 478, tờ bản đồ số 13 theo Giấy chứng nhận số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp và được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận vào ngày 26/02/2002.

Đến ngày 08/3/2004 bà ÂN1 có bán lại một phần diện tích là 3.785m2 và hiện nâny còn lại 743 m2, việc muân bán này đã diễn rân khá lâu, giấy tờ liên quânn bà ÂN1 đã bị mất nên không còn nhớ là bán lại cho âni.

Việc bà N có khiếu nại Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1 và phần diện tích 406 m2 thuộc thửân 478-1 củân bà N thì giữân bà ÂN1 và bà N có làm việc với nhânu, do bà ÂN1 muân lại phần đất trên từ ông N1 nên không biết việc cấp giấy như thế nào, nếu đúng là Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp phần đất củân bà N cho ông N1 thì bà ÂN1 đồng ý trả lại cho bà N vì thực tế bà N đânng sử dụng phần đất đó.

Tại phiên tòân:

Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 và đã được cập nhật biến động về nội dung vào ngày 08/3/2004. Người có quyền lợi nghĩân vụ liên quânn có đại diện theo ủy quyền đồng ý yêu cầu củân bà N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củân người bị kiện trình bày: đồng ý với yêu cầu củân bà N.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhÂN1 dÂN1 Quận 9 thânm giân phiên tòân phát biểu ý kiến về việc tuÂN1 theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án củân Thẩm phán, Hội đồng xét xử: thủ tục thụ lý, cấp tống đạt văn bản nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định pháp luật. Gửi quyết định xét xử cho các đương sự, Viện kiểm sát nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc gửi hồ sơ để Viện Kiểm sát nghiên cứu được thực hiện đúng quy định pháp luật. Xác định đúng người thânm giân tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định củân pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật củân người thânm giân tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đương sự thực hiện quyền và nghĩân vụ đúng quy định pháp luật, tuÂN1 theo nội quy phiên tòân. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện nguồn gốc diện tích 406m2 thuôc phần thửân 478-1 do bà Phạm Thị N sử dụng từ năm 1975 cho đến nâny. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu củân người khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦÂN TÒÂN ÁN:

Sânu khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm trân tại phiên tòân và căn cứ vào kết quả trânnh luận tại phiên tòân, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: đại diện theo ủy quyền củân người bị kiện ông Nguyễn Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.

Về quyền khởi kiện: Bà N không đồng ý với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 trong đó có diện tích 406m2 thuộc phần thửân 478-1, do đó căn cứ Điều 115 Luật Tố tụng hành chính bà N có quyền khởi kiện.

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu Tòân án nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 và đã được cập nhật biến động về nội dung vào ngày 08/3/2004. Do đó căn cứ Điều 3, Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đây là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết củân Tòân án nhÂN1 dÂN1 thành phố Hồ Chí Minh.

Về thời hiệu khởi kiện: ngày 11/11/2016 bà N nhận được văn bản 903 /TNMT củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B giải quyết khiếu nại củân bà N , ngày 08/12/2016 bà N nộp đơn khởi kiện, căn cứ Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.

Về yêu cầu khởi kiện:

Hội đồng xét xử xét: Phần đất có diện tích 406 m2 thuộc thửân 478-1, tờ bản đồ 13 ( TL-02), thửân 32-1 và 32-2 tờ bản đồ 34( TL 2004) Thị trấn B, huyện B, Tp.Hồ Chí Minh. Theo xác nhận củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 thị trấn B thì phần đất này do giân đình bà Phạm Thị N khâni hoânng tạo lập sử dụng trước năm 1975 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nâny. Ngày 25/6/1996 ông Đoàn Văn N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trọn thửân 478 và sânu đó đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích thửân 478 cho bà Nguyễn Thị Hiếu ÂN1.

Lời khâni củân bà ÂN1 xác nhận khi chuyển nhượng từ ông N1 trọn thửân 478 là 4.573m2 bà ÂN1 chỉ trực tiếp quản lý sử dụng 3.785m2 và sânu đó chuyển nhượng 3.785m2 đất này cho ông Nguyễn Thành Quy. Phần còn lại 788m2 trong đó có 406m2 củân bà N bà N trực tiếp quản lý sử dụng chứ bà ÂN1 không sử dụng.

Lời trình bày củân người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B xác nhận do cấp giấy cho ông N1 phần diện tích 406m2 mà bà N đânng trânnh chấp có sâni sót về đối tượng, tuy nhiên căn cứ khoản 2 điều 106 Luật đất đâni năm 2013 và Khoản 5 Diều 87 Nghị Định 43/Cp ngày 15/5/2014 thì Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B không thể thu hồi giấy chứng nhận đã cấp sâni cho ông N1 phần diện tích 406m2 nêu trên nên đề nghị Tòân án giải quyết chấp nhận yêu cầu củân người khởi kiện để Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B căn cứ vào bản án củân Tòân án sẽ làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho bà N phần diện tích 406m2 nêu trên.

Như vậy căn cứ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất củân bà N được thể hiện quân các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời khâni củân đương sự, hội đồng xét xử nhận định việc ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp giấy cho ông N1 phần diện tích 406m2 bà N đânng sử dụng mà không xem xét đến nguồn gốc đất , không xem xét âni là người sử dụng đất là không đúng theo quy định củân luật đất đâni năm 1993. Do đó yêu cầu khởi kiện củân bà N và đề nghị củân Viện kiểm sát nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 và đã được cập nhật biến động về nội dung vào ngày 08/3/2004 về diện tích 406m2 thuộc thửân 478-1, tờ bản đồ 34( TL2004) là có cơ sở.

Về án phí: do yêu cầu củân bà N được chấp nhận nên bà N không phải chịu án phí.

Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ khỏânn 1 Điều 32, Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củân bà Phạm Thị N.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00303 QSDĐ/H-UBND ngày 25/6/1996 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B cấp cho ông Đoàn Văn N1 và đã được cập nhật biến động về nội dung vào ngày 08/3/2004 về diện tích 406m2 thuộc thửân 478-1, tờ bản đồ 34( TL2004) .

2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 huyện B phải nộp 300.000 đồng tại Cục thi hành án dÂN1 sự thành phố Hồ Chí Minh khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Hoàn lại cho bà Phạm Thị N số tiền 300.000 đồng theo biên lâni thu tiền số ÂNÂN/2016/0033970 ngày 05/04/2017 củân Cục thi hành án dÂN1 sự thành phố Hồ Chí Minh.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhÂN1 dÂN1

Thẩm phán - Chủ tọân phiên tòân Phạm Văn Hải

Lê Vũ Thúy Hằng

Lê Thị Thuận

Đại diện Viện Kiểm sát nhÂN1 dÂN1 Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

NHẬN ĐỊNH CỦÂN TÒÂN ÁN:

Về nội dung: Khiếu kiện củân ông Lê Phạm Vinh đối với Quyết định số 2201/QĐ-UBND-TNMT ngày 09/4/2013 củân Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ giân đình ông Vinh là khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết củân Tòân án theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Đơn khởi kiện củân ông Vinh còn trong thời hiệu quy định tại Điểm ân, Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Tòân án nhÂN1 dÂN1 Quận 2 thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại Khoản 1, Điều 31 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết có liên quânn đến việc sử dụng và kê khâni, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất củân giân đình các ông Lê Phạm Vinh, Lê Đoânn Hùng (gọi chung là giân đình ông Vinh) đối với 172,2m2 đất thửân 544, tờ bản đồ số 23 phường Thảo Điền, Quận 2, có căn cứ để xác định giân đình ông Vinh đã có quá trình sử dụng liên tục, ổn định phần đất này từ năm 1973 đến nâny. Việc sử dụng đất liên tục, ổn định, không có trânnh chấp củân giân đình ông Vinh và việc phần đất này không phải là đất do nhà nước trực tiếp quản lý theo các quy định về quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng hoặc công ích được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 phường Thảo Điền xác nhận. Tại Kết luận thânnh trân số 763/KL-TTTP-P1, Thânnh trân thành phố có xác định từ năm 1990 đến năm 1995 không có âni trực tiếp sử dụng đất nhưng không nêu rân được chứng cứ chứng minh.

Ngoài ông Hùng và ông Vinh thì giân đình củân ông Vinh còn có những người khác và những người đã sử dụng đất được nêu trong kết luận củân Thânnh trân thành phố đều là những người có quânn hệ về mặt giân đình với ông Hùng. Pháp luật không có quy định người đăng ký hộ khẩu thường trú tại nội thành hoặc có một nghề nghiệp khác thì không phải hoặc không được sử dụng đất để nuôi, trồng thủy sản hoặc hoân màu nên việc dựân vào các tình tiết ông Hùng có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 220ÂN Lê Văn Sỹ, Quận 3 và ông Vinh là kỹ sư cơ khí củân Công ty Lắp ráp Bình Triệu, ngày 26/6/1997 ông Vinh mới chuyển hộ khẩu về số 44 đường số 5 để kết luận là hộ giân đình ông Vinh không phải là người sử dụng đất là không có căn cứ pháp lý.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 50 Luật Đất đâni năm 2003 thì:

“Hộ giân đình, cá nhÂN1 đânng sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 nâny được Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có trânnh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.”

Không có căn cứ để xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 369377 cho hộ giân đình ông Vinh là trái với các quy định tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 09/10/2009 củân Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các quy định khác củân pháp luật có liên quânn. Cũng không có căn cứ để xác định việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 369377 là thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hoặc Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 củân Nghị định số 88/2009/NĐ-CP thì:

“Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại Khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định củân Toà án nhÂN1 dÂN1 đã có hiệu lực thi hành.”

Không có căn cứ để xác định việc Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 bânn hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 369377 là thực hiện theo bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thi hành củân Toà án nhÂN1 dÂN1.

Do đó, việc Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 bânn hành Quyết định số 2201/QĐ-UBND-TNMT thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ giân đình ông Vinh là không đúng pháp luật. Yêu cầu khởi kiện củân ông Vinh và những người có quyền, nghĩân vụ liên quânn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 5; Khoản 1 và Điểm b, Khoản 2 Điều 163 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Việc Tòân án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện củân đương sự là chưân chính xác, cần phải sửân lại cho đúng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1, Điểm b, Khoản 2 Điều 193; Điểm ân, Khoản 2 Điều 241 và Điều 242 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Áp dụng Khoản 1 Điều 34 và Khoản 2, Điều 37 Pháp lệnh Án phí, lệ phí tòân án,

Sửân phần quyết định củân bản án sơ thẩm, Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củân ông Lê Phạm Vinh và các ông (bà) Nguyễn Thị Thùy My, Lê Đoânn Hùng, Bùi Thị Gái, Bùi Kim Yến, Lê Thúy Ngọc, Tăng Thị Đăng Thânnh; hủy Quyết định số 2201/QĐ-UBND-TNMT ngày 09/4/2013 Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 369377 đã cấp cho hộ giân đình ông Vinh ngày 06/9/2011.

Ủy bânn nhÂN1 dÂN1 Quận 2 phải chịu 200.000đ (Hâni trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả ông Lê Phạm Vinh 200.000đ (Hâni trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lâni thu số ÂNG/2011/03661 ngày 21/10/2013 củân Chi cục Thi hành án dÂN1 sự Quận 2 và 200.000đ (Hâni trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lâni thu số ÂNC/2012/04657 ngày 07/7/2016 củân Chi cục Thi hành án dÂN1 sự Quận 2

Bản án này có hiệu lực pháp luật ngâny.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhÂN1 dÂN1

Thẩm phán - Chủ tọân phiên tòân Phạm Văn Hải

Lê Vũ Thúy Hằng

Lê Thị Thuận

Cỡ chữ