vanban.org

Bản án 101

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 09/09/2021 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công Nhật Tr, bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-11-2019 đến ngày 21-11-2019. Xử phạt bị cáo Hoàng Công Nhật Tr 24 (hai mươi b n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công Nhật Tr, bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? luật T tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HÂ DÂ

C

H

H CH

H

N

H Â

c p – do – H nh ph c

n án s : 101/2021/HS-PT Ngày: 09-9-2021

HÂ D H

C C

H

H CH

H

NAM

HÂ DÂ

H Â

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Ông Nguyễn Văn ỉnh

- Thư ký phiên tòa: à Đào Thị Lương, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở TAND tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 146/2021/TLPT-HS ngày 11-8-2021 đ i với các bị cáo Nguyễn Văn H cùng các đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo, đ i với n án hình sự sơ thẩm s 110/2021/HS-ST ngày 26-5-2021 của TAND thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên guyễn ăn H, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi ĐKHKTT và cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn H1 (chết năm 2021), con bà Trần Thị K, sinh năm 1952, hiện cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ; vợ Nguyễn Thị Cẩm T sinh năm 1995, có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh 2020, hiện đều cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ;

Tiền án, tiền sự: không; ị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-11-2019 đến ngày 21-11-2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “ o lĩnh”, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Họ và tên Hoàng Công Nh t Tr (tên gọi khác Cu Sún); sinh năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt N; con ông Hoàng Công N, sinh năm 1968, con bà Nguyễn Thị T sinh năm 1973, hiện đều cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự không; nhân thân: QĐ s 235693QĐ/XPVPHC ngày 07-11-2010 bị Công an thành ph Đ xử phạt c nh cáo về hành vi “vi phạm giao thông”. ị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04-3-2020 đến ngày 06-3-2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “ o lĩnh”, hiện bị cáo tại ngoại, Có mặt.

3. Họ và tên guyễn ăn P, sinh năm 1975 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT và cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn H1 (chết năm 2021), con bà Trần Thị K, sinh năm 1952, hiện cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ; vợ Trần Thị H sinh năm 1977, có 01 con sinh năm 2005, hiện đều cư trú: 11/17 Lữ Gia, phường 9, thành ph Đ;

Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04-11-2004 bị Công an phường 3, thành ph Đ xử phạt 100.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; QĐ s 06/QĐ-XPVPHC ngày 22-01-2016 Công an phường 2, thành ph Đ xử phạt 750.000đ về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”. ị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-9-2019 đến ngày 21-11-2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “ o lĩnh”, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại anh T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T1, anh N, anh N1 (hiện bỏ di khỏi nơi cư trú) anh T2 không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

DU

Ụ :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước với nhóm của anh Vũ Văn N, nên vào kho ng 10 giờ 00 ngày 30-9-2019 các bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P, anh V1, anh T2 và các đ i tượng tên H1 (bạn của anh V1), tên H1 (bạn bị cáo Tr), tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch, bạn bị cáo Tr) đến quán cà phê “Deer in the Forest (69 Lữ Gia, phường 9, Đ)”, bàn bạc việc đánh tr thù nhóm anh N. Khi được bị cáo H rủ, bị cáo Tr, bị cáo P, các đ i tượng N1, H1 (bạn bị cáo Tr) đồng ý giúp sức, còn anh V1, anh T2, H1 (bạn anh V1) không đồng ý tham gia.

Sau khi bàn bạc, bị cáo Tr lấy một bao hung khí từ xe bị cáo H mang qua để trên xe taxi Vinagold 49A-121.29 của bị cáo P. Sau đó, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển s 49A-165.40 đi trước, bị cáo P điều khiển xe biển s 49A-121.29 chở bị cáo Tr, anh N1, anh H1 theo sau. Trên đường đi, bị cáo P điều khiển xe đến đường T Mỹ, phường 4, Đ đón thêm đ i tượng tên Sói, tên Gà (không rõ nhân thân, lai lịch, bạn bị cáo Tr). Kho ng 11 giờ 45 phút cùng ngày bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P và các đ i tượng tên N1, H1, Sói, Gà đến “Quán vịt quay Thuận Phát (địa chỉ 4B H1 Thượng, phường 6, Đ)”. Khi đến quán, bị cáo H cầm 01 mã tấu giấu trong tay áo rồi đi vào thì thấy anh N, anh T1, anh T, anh T2, anh N1, chị T, chị LA đang ăn cơm. ị cáo H hỏi lớn “Thằng nào bữa trước ném mắm tôm nhà tao”, anh N tr lời “về Bắc rồi”; bị cáo H hỏi tiếp “tụi mày có thích chém nhau không” rồi dùng tay pH1 đấm một cái vào mặt anh N khiến anh N té ngã. Liền sau đó, bị cáo H dùng mã tấu chém vào tay, chân anh N và hai người khác trong nhóm anh N.

Khi nhìn thấy bị cáo H chém nhóm anh N, bị cáo Tr cầm mã tấu, bị cáo P cầm kiếm, đ i tượng tên N1, H1, Sói, Gà cầm hung khí xông vào chém nhóm anh N. Kho ng 01 phút sau nhóm bị cáo H lên xe bỏ tr n; trên đường đi bị cáo Tr gom hung khí vứt xu ng Hồ Xuân Hương.

Sau khi bị chém các anh N, anh T1, anh T2, anh N1, anh T được người dân đưa đi cấp cứu tại ệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng.

ị hại anh T bị 01 vết thương cánh tay trái dài 4cm đứt cân cơ. Tại Kết luận giám định s 308/2019/TgT ngày 09-12-2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng xác định tỷ lệ thương tích 14% tổn thương do vật sắc gây nên.

Anh T1 bị 01 vết thương vai trái dài 2cm; 01 vết thương khuỷu tay trái dài 5cm; anh N bị 01 vết thương 1/3 giữa cẳng chân pH1 dài 5cm, vết thương g i pH1 dài 15cm, đứt cực dưới gân xương bánh chè; anh T2 bị 02 vết thương cánh tay trái, mỗi vết dài 5cm, vết thương vùng mặt sau cẳng tay trái dài 10cm, mẻ xương quay, đứt cơ duỗi các ngón; anh Nhân bị vết thương vai pH1 dài 20cm đứt cơ vai, vết thương 1/3 dưới cẳng chân trái dài 10cm, vết thương 1/3 trên cẳng tay trái mặt sau dài 15cm, gãy hở 2 xương cẳng tay, đứt thần kinh trụ, đứt toàn bộ gân cơ duỗi các ngón, mạch quay.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định thương tích và dẫn gi i anh T1, anh N1, anh N, anh T2 để giám định thương tích. Tuy nhiên các anh anh T1, anh N1, anh N không có mặt tại nơi cư trú, hiện không xác định đang ở đâu, đới với anh T2 hiện đang cư trú tại thành ph Nam Định nhưng không chấp hành việc dẫn gi i để giám định nên chưa đủ cơ sở xử lý các bị cáo đ i với hành vi gây thương tích cho anh T1, anh Nhân, anh N, anh T2.

Vật chứng thu giữ 01 bao da (kích thước 47x8cm); 01 ng nhựa (đường kính 2,5cm); 01 US bên trong có chứa đoạn dữ liệu ghi lại thời điểm x y ra sự việc tại trước quán Vịt Quay; 01 cây kiếm (bằng kim loại dài 70 cm); 01 bao màu đen; 01 cây kim loại gậy bóng chày.

Tạm giữ 01 xe ô tô 49A-121.29, kèm theo 01 giấy kiểm định; 01 giấy b o hiểm; 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô của bị cáo P. Cơ quan điều tra đã tr lại xe ô tô, cùng các giấy kiểm định, giấy b o hiểm và giấy biên nhận thế chấp cho bị cáo P.

Về bồi thường thiệt hại, các bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P đã bồi thường cho bị hại anh T và các anh T1, anh N, anh N1, anh T2 tổng s tiền là 900.000.000đ, nên các anh T1, anh N, anh N1, anh T2 có đơn bãi nại và từ ch i giám định thương tật và không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đ i với các bị cáo.

Tại n án hình sự sơ thẩm s 110/2021/HS-ST ngày 26-5-2021 của TAND thành ph Đ đã tuyên b các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công N1 Tr, bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 134; các điểm b, s kho n 1 kho n 2 Điều 51; Điều 38 của ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung viết tắt BLHS năm 2015).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-11-2019 đến ngày 21-11-2019.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Công Nhật Tr 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-3-2020 đến ngày 06-3-2020

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-9-2019 đến ngày 21-11-2019

n án còn kiến nghị tiếp tục thực hiện trưng cầu giám định đ i với anh T1, anh N1, anh N, anh T2 và điều tra để xử lý theo quy định. Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 31-5-21 các bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P cùng kháng cáo và đề nghị xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như b n án sơ thẩm, không thắc mắc khiếu nại b n án sơ thẩm. Về kháng cáo, bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P cùng giữ nguyên kháng cáo đề nghị xem xét gi m nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của ộ luật T tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

HẬ Ị H C

:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do có mâu thuẫn từ trước với nhóm của anh Vũ Văn N, nên vào kho ng 10 giờ ngày 30-9-2019 các bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P, anh V1, anh T2 và các đ i tượng tên H1 (bạn của anh V1), tên H1 (bạn bị cáo Tr), tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch, bạn bị cáo Tr) đến quán cà phê “Deer in the Forest (69 Lữ Gia, phường 9, Đ)”, bàn bạc việc đánh tr thù nhóm anh N. Khi được bị cáo H rủ, bị cáo Tr, bị cáo P các đ i tượng N1, H1 (bạn bị cáo Tr) đồng ý giúp sức, còn anh V1, anh T2, H1 (bạn anh V1) không đồng ý tham gia.

Sau khi bàn bạc th ng nhất, bị cáo Tr lấy một bao hung khí từ xe bị cáo H mang qua để trên xe taxi Vinagold 49A-121.29 của bị cáo P. Sau đó, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển s 49A-165.40 đi trước, bị cáo P điều khiển xe 49A-121.29 chở bị cáo Tr, anh N1, anh H1 (bạn bị cáo Tr) theo sau. Trên đường đi, bị cáo P điều khiển xe đến đường Thiện Mỹ, phường 4, thành ph Đ đón thêm đ i tượng tên Sói, tên Gà (không rõ nhân thân, lai lịch, bạn bị cáo Tr).

Kho ng 11 giờ 45 phút cùng ngày bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P và các đ i tượng tên N1, H1, Sói, Gà đến “Quán vịt quay Thuận Phát (địa chỉ 4B H1 Thượng, phường 6, Đ)”; bị cáo H vào đến quán cầm 01 mã tấu giấu trong tay áo đên nơi anh N, anh T1, anh T, anh T2, anh Nhân, chị T, chị LA đang ăn cơm. ị cáo H hỏi lớn “Thằng nào bữa trước ném mắm tôm nhà tao”, anh N tr lời “về Bắc rồi”; bị cáo H hỏi tiếp “tụi mày có thích chém nhau không” rồi dùng tay pH1 đấm một cái vào mặt anh N khiến anh N té ngã. Liền sau đó, bị cáo H dùng mã tấu chém vào tay, chân anh N và hai người khác trong nhóm anh N.

Khi nhìn thấy bị cáo H chém nhóm anh N, bị cáo Tr cầm mã tấu, bị cáo P cầm kiếm, đ i tượng tên N1, H1 (bạn bị cáo Tr), Sói, Gà cầm hung khí xông vào chém những người còn lại gồm anh T, anh T1, anh T2, anh Nhân. Hậu qu của hành vi, anh N, anh T, anh T1, anh T2, anh N1 bị thương tích, trong đó anh T bị thương tích 14% do vật sắc gây nên. Đ i chiếu lời khai của các bị cáo, lời khai bị hại, dữ liệu điện tử thu giữ từ Camera quán Quán vịt quay Thuận Phát, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ; Cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, đã tuyên b các bị cáo H, bị cáo Tr, bị cáo P phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định điểm d kho n 2 Điều 134 của LHS năm 2015 là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo bị cáo, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc Tr hợp nghiêm trọng, xâm hại đến khách thể sức khỏe của con người được pháp luật b o vệ. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá phân hoá vai trò đồng phạm quy định tại các Điều 17, 58 của LHS năm 2015; áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, bị hại đề nghị gi m nhẹ, bị cáo H đến Cơ quan Công an đầu thú quy định các điểm b, điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51 của LHS năm 2015 để quyết định phạt là thỏa đáng.

Căn cứ vào diễn biến hành vi các bị cáo thực hiện đã thể hiện việc bị cáo H hỏi lớn “Thằng nào bữa trước ném mắm tôm nhà tao”, anh N tr lời “về Bắc rồi”; bị cáo H hỏi tiếp “tụi mày có thích chém nhau không”. Như vậy tuy người mâu thuẫn, ném mắm tôm không pH1 anh N, anh T, anh T1, anh T2, anh Nhân, trong khi đó, các bị cáo liền sau đó dùng dao chém thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d kho n 1 Điều 52 của LHS năm 2015 nhưng chưa được áp dụng là thiếu sót, nên cần áp dụng đầy đủ nhưng không làm bất lợi cho bị cáo.

Các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết gi m nhẹ mới nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên b n án sơ thẩm mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Trong vụ án này các đ i tượng tên N1, tên H1 (bạn bị cáo Tr), tên Sói, tên Gà cùng thực hiện hành vi, trong khi đó do chưa xác minh được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh để xử lý sau.

Đ i với thương tích của anh T1, anh N, anh T2, anh Nhân: n án sơ thẩm cũng đã kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục trưng cầu giám định để xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận, nên mỗi bị cáo ph i chịu án phúc hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ Ị H:

Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của ộ luật T tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công Nhật Tr, bị cáo Nguyễn Văn P; giữ nguyên b n án sơ thẩm; xử.

1. Tuyên b các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công Nhật Tr, bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 134; các điểm b, s kho n 1 kho n 2 Điều 51; điểm d kho n 1 Điều 52 ; Điều 38 của BLHS năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-11-2019 đến ngày 21-11-2019.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Công Nhật Tr 24 (hai mươi b n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-3-2020 đến ngày 06-3-2020.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 24 (hai mươi b n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-9-2019 đến ngày 21-11-2019.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Hoàng Công Nhật Tr, bị cáo Nguyễn Văn P ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ