- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn L phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2026/HS-ST Ngày: 25/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÂM ĐỒNG
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế T
Các thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị H, bà Lê Thị Phương H1
Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 25/8/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2026 theo định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn L, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05/12/1992, tại tỉnh Ninh Bình; Số định danh cá nhân: 037092012809, cấp ngày 31/10/2024. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1968; con bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1968, đều trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng; Bị cáo có vợ là Vũ Thị Thu H2, sinh năm 1998 (đã ly hôn), trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng và 01 con, sinh năm 2017; Tiền án: 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HSST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (cũ) tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ngày 07/12/2024, chấp hành xong hình phạt tù. (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 31/12/2010 của Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An, áp dụng hình thức xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 01/12/2023 của Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), áp dụng hình thức xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 13/9/2025 của Công an xã T, tỉnh Lâm Đồng, áp dụng hình thức xử phạt bằng hình thức Cảnh cáo (đã chấp hành xong).
Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giam từ ngày 16/6/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ1 (cơ sở 02) thuộc Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh L - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn L (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng) là người đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Cơ sở 2 thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng từ ngày 22/4/2026 (Theo quyết định số: 649/QĐ-UBND ngày 22/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã T), thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 41 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
Vào khoảng đầu tháng 3/2026, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Vũ Văn L đến khu vực thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng gặp và mua ma túy loại Heroine của một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L chia làm 02 phần, rồi đi vào khu vực rẫy vắng người, lấy 01 phần ma túy để sử dụng. Số ma túy còn lại, L đưa về nhà cất giấu. Sáng ngày 24/5/2026, sau khi L đi uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng (cơ sở B) thì về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L lấy 01 phần ma túy đã mua trước đó bỏ vào túi quần rồi đi đến khu vực rẫy thuộc thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng sử dụng hết số ma túy trên bằng cách lấy ma túy bỏ vào giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt và hít trái phép chất ma túy đưa vào cơ thể.
Đến ngày 28/5/2026, Công an xã T phối hợp với Trung tâm Y tế K kiểm tra xét nghiệm chất ma túy đối với Vũ Văn L theo kế hoạch. Kết quả, Vũ Văn L dương tính với ma túy loại Codeine, M. Công an xã T tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Vũ Văn L (được niêm phong theo quy định của pháp luật).
* Tại Kết luận giám định số: 1701/KL-KTHS ngày 08/6/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:
Tìm thấy các chất ma túy loại Morphine, Methamphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Văn L gửi giám định.
Vật chứng thu giữ: Không.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Tại bản trạng số: 64/ CT-VKSLDG-KV8 ngày 10 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo Vũ Văn L mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Về vật chứng liên quan: Đối với tờ giấy bạc và bật lửa là dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không thu giữ được nên không xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định: Vũ Văn L (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng) là người đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Cơ sở 2 thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng từ ngày 22/4/2026 (Theo quyết định số: 649/QĐ-UBND ngày 22/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng), thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 41 Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Ngày 24/5/2026, sau khi L đi uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng (cơ sở B) thì về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L lấy 01 phần ma túy đã mua trước đó bỏ vào túi quần rồi đi đến khu vực rẫy thuộc thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng sử dụng hết số ma túy trên bằng cách lấy ma túy bỏ vào giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt và hít trái phép chất ma túy đưa vào cơ thể.
Đến ngày 28/5/2026, Công an xã T phối hợp với Trung tâm Y tế K kiểm tra xét nghiệm chất ma túy đối với Vũ Văn L theo kế hoạch. Kết quả, Vũ Văn L dương tính với ma túy loại Codeine, M. Công an xã T tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Vũ Văn L (được niêm phong theo quy định của pháp luật) gửi đi giám định.
Kết quả giám định kết luận: Tìm thấy các chất ma túy loại Morphine, Methamphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Văn L gửi giám định.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
…”
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích và đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học để lao động lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm những vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đang có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy: Cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo học tập, cải tạo, để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng vụ án: Không.
Các vấn đề khác: Đối với mảnh giấy bạc và bật lửa là dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không thu giữ được nên không xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
1. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/6/2026.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Vũ Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - VKS ND tỉnh Lâm Đồng; - VKS ND Khu vực 8 – Lâm Đồng; - Phòng PV 06, PC 10, PC 11 Công an tỉnh Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 8 – THADS tỉnh Lâm Đồng’ - Những người tham gia tố tụng ; - Lưu HS.VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Thắng |