- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T-Lê Quốc T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh T ly hôn anh Lê Quốc T1.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Tuyết Mai
2. Bà Lê Thị Phằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2026/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2026, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 284/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số 3031/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt – có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Quốc T1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Tổ dân phố T (sau sáp nhập là tổ dân phố L), phường A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 3 năm 2026, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Chị và anh Lê Quốc T1 quen biết và tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/02/2025 tại UBND xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (cũ). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại tỉnh Khánh Hoà, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung thường hay cãi vả, vợ chồng không còn tình cảm nên anh T1 về nhà cha mẹ ruột ở tổ dân phố T (cũ), phường A, tỉnh Gia Lai sinh sống. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với anh T1 nên chị yêu cầu ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung tên là Lê Thái Thu U, sinh ngày 08/4/2025, hiện nay con đang ở với chị, sức khoẻ bình thường. Nếu ly hôn chị yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, bị đơn anh Lê Quốc T1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình về nội dung vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Toà án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị T được ly hôn với anh T1 và giao cháu Lê Thái Thu U, sinh ngày 08/4/2025 cho chị T được quyền nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Lê Quốc T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Quốc T1 đang cư trú tại tổ dân phố L, phường A, tỉnh Gia Lai nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh Lê Quốc T1 cũng như triệu tập đến Tòa để giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh Lê Quốc T1 không có mặt cũng không cung cấp văn bản ý kiến của mình về nội dung vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào lời khai của chị Nguyễn Thị Thanh T cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và biên bản xác minh do Toà án thu thập để giải quyết vụ án.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Lê Quốc T1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (cũ) nên hôn nhân giữa chị T, anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị T yêu cầu ly hôn với anh T1 vì anh chị không còn tình cảm. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên chị T nộp đơn ly hôn, anh T1 không đến Toà cũng không đưa ra ý kiến, giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng còn chị T kiên quyết xin ly hôn vì chị cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, không có bất kỳ giải pháp nào kết nối. Như vậy, hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, chị T được ly hôn với anh Lê Quốc T1.
Về quan hệ con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Lê Thái Thu U, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2025. Chị T yêu cầu giao con chung cho chị tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con đồng thời phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên; Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Cháu Lê Thái Thu U hiện nay còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ. Từ trước đến nay cháu U được chị T chăm sóc, giáo dục tốt. Việc giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là đáp ứng yêu cầu phát triển của cháu T nên áp dụng Điều 81 của giao cháu U cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị T được ly hôn với anh T1; Về con chung: Giao cháu Lê Thái Thu U, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2025 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, nợ chung và tài sản chung không có yêu cầu nên không giải quyết là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh T ly hôn anh Lê Quốc T1.
2. Giao con chung là Lê Thái Thu U, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2025 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu U đang sống với chị T; Chị T không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002765 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai; - THADS tỉnh Gia Lai; - UBND phường An Nhơn Bắc (Số 13/2025); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Hậu |