vanban.org

Bản án 101/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị L đối với ông Hồ Đắc Q.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị L được ly hôn ông Hồ Đắc Q. Về con chung: Giao con Hồ Đắc Hoàng G, sinh ngày: 24/6/2019 Cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn,"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị L đối với ông Hồ Đắc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/ 2025/HNGĐ - ST
Ngày: 20 - 8 - 2025
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Trần Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 08 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc "Ly hôn, nuôi con chung " theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 07 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 35 ngày 11 tháng 08 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1988; CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 22/12/2021; địa chỉ: Số A Lỗ G , phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

Bị đơn: Ông Hồ Đắc Q - sinh năm 1967;CMND: xxxxxxxxx do CA TPĐN cấp ngày 12/09/2008 địa chỉ: tổ F phường H, (nay phường N), TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ơ

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Bà Lê Thị L và ông Hồ Đắc Q kết hôn vào năm 2022. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cách biệt tuổi tác quá xa nhau nên quan điểm sống hoàn toàn khác nhau. Ông Q là người gia trưởng luôn áp đặt ý chí buộc bà phải làm theo và kiểm soát tự do của bà trong cuộc sống, ghen tuông vô cớ. Mâu thuẫn như vậy kéo dài đến nay vẫn không thay đổi, vợ chồng hiện soomngs ly thân nhau. Nay vợ chồng hiện sống ly thân nhau và chồng chấm dứt mọi quan hệ. bà L xác định tình cảm không còn yêu thương ông Q nữa, nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

Về quan hệ con chung: Bà L và ông Q có con Hồ Đắc Hoàng G, sinh ngày: 24/6/2019. Ly hôn, Bà L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà L xác định không có.

Về nợ chung: không có

* Bị đơn ông Hồ Đắc Q vắng mặt không có ý kiến tại hồ sơ.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.

- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.

- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:

Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng.

Căn cứ vào Điều 51,56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam;

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị L đối với ông Hồ Đắc Q.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà bà Lê Thị L được ly hôn đối với ông Hồ Đắc Q.

Về con chung: Giao con Hồ Đắc Hoàng G, sinh ngày: 24/6/2019 Cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa ông bà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Hồ Đắc Q (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị L và ông Hồ Đắc Q kết hôn vào năm 2022. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống không phù hợp nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mặt khác bà L cho rằng ông Q luôn kiểm soát hoạt động trong cuộc sống của bà, mâu thuẫn như vậy kéo dài nhưng không khắc phục được. Nay bà L xác định tình cảm không còn yêu thương ông Q nữa nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà L thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Hiện vợ chồng đã tự sống ly thân nhau càng tạo thêm rạn nứt tình cảm vợ chồng có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì.

Đối với ông Q tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng ông đều vắng mặt thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Xét thấy mâu thuẫn của bà L và ông Q đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L đối với ông Q là phù hợp với điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con Hồ Đắc Hoàng G, sinh ngày: 24/6/2019, hiện nay cháu ở với bà L. Ly hôn bà L yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con thì thấy, hiện nay cháu Hoàng G đang ở ổn định với bà L và còn nhỏ không nhất thiết phải thay đổi môi trường sống của cháu, do đó thấy giao con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu nên không đề cập đến.

Về Tài sản chung và nợ chung bà L xác định không có. Tuy nhiên ông Q vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến của ông để đảm bảo quyền lợi các đương sự HĐXX không đề cập đến, nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu giải quyết nợ chung thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Lê Thị L phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng ( nay là Thi hành thành phố Đà Nẵng) theo biên lai thu số 0010258 ngày 6 tháng 6 năm 2025.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị L đối với ông Hồ Đắc Q.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị L được ly hôn ông Hồ Đắc Q.

2. Về con chung: Giao con Hồ Đắc Hoàng G, sinh ngày: 24/6/2019 Cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không đề cập đến, nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

4. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Lê Thị L phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng ( nay là Thi hành án khu vực 2- Đà Nẵng) theo biên lai thu số 0010258 ngày 06 tháng 6 năm 2025.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ