vanban.org

Bản án 101/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Huệ xin ly hôn với ông Thắng"
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 101/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 5 – 2025
Về: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Ngọc Liêm;

2. Ông Ngô Văn Được.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 838/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh ch p ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 216/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Huệ, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Ấp Bình Phú, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Lê Minh Thắng, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Ấp Bình Phú, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt bà Huệ, vắng mặt ông Thắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 22/11/2024 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại Tòa, bà Trương Thị Huệ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông Thắng được hình thành là thông qua mai mới, được cha mẹ hai bên đồng ý và hai người chung sống nhau từ năm 2009, nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra gây cãi, bởi ông Thắng xúc phạm bà và gia đình, mặc dù bà cố nhường nhịn và tìm cách hàn gắn để nuôi con, nhưng ông Thắng ngày càng lấn tới đánh đập bà dẫn đến ly thân nhau từ giữa năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin được ly hôn với ông Thắng.

Về quan hệ con chung: Bà và ông Thắng có 02 con chung: 1/ Lê Thị Thúy Liễu, sinh ngày 05/3/2011; 2/ Lê Hoàng Giang, sinh ngày 19/4/2015. Hiện 02 con chung do ông Thắng chăm sóc và nuôi dưỡng, khi ly hôn bà đồng ý giao 02 con cho ông Thắng tiếp tục nuôi, bà xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông Thắng tự thỏa thuận.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông Thắng không có tài sản chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Lê Minh Thắng để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà Huệ bảo lưu ý kiến của mình.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà Huệ - ông Thắng chung sống nhau từ năm 2009, nhưng không đăng ký kết hôn, nên đề nghị HĐXX tuyên không công nhận bà Huệ – ông Thắng là quan hệ vợ chồng; về quan hệ con chung, Lê Thị Thúy Liễu và Lê Hoàng Giang, đều trên 07 tuổi và có ý nguyện sống với cha, đề nghị HĐXX cộng nhận; đối với tài sản chung tự thỏa thuận; nợ chung không có, nên không xem xét giải quyết. Từ phân tích trên, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục: Ông Lê Minh Thắng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt ông Thắng, theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền: Bà Huệ khởi kiện ly hôn với ông Thắng là thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Thắng có địa chỉ cư trú tại huyện Chợ Mới, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết theo thẩm quyền.

. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Huệ – ông Thắng được hình thành là do hai người tự tìm hiểu và chung sống nhau từ năm 2009; lẽ ra bà Huệ – ông Thắng phải tuân thủ pháp luật, đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng giai đoạn hòa giải bà Huệ trình bày từ trước đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Trình bày của bà Huệ phù hợp với kết quả xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 09/5/2025, nơi bà Huệ có đăng ký hộ khẩu, nên HĐXX áp dụng Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên không công nhận bà Trương Thị Huệ và ông Lê Minh Thắng là quan hệ vợ chồng.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy từ khi bà Huệ - ông Thắng ly thân nhau đến nay, hai cháu Lê Thị Thúy Liễu và Lê Hoàng Giang, do ông Thắng nuôi, hai cháu đều trên 07 tuổi và có ý nguyện tiếp tục chung sống với cha, nên để không xáo trộn về tâm sinh lý của hai cháu, cũng như tạo điều kiện cho hai cháu phát triển tốt về sau, HĐXX chấp nhận giao hai cháu Liễu, Giang cho ông Thắng tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.

Thông qua bản án, HĐXX cũng giải thích cho ông Thắng biết: Trong thời gian nuôi con, ông Thắng cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà Huệ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng ông Thắng không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

. Về quan hệ tài sản chung: Bà Huệ không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.

. Về quan hệ nợ chung: Bà Huệ khai bà với ông Thắng không có nợ chung. Tuy nhiên do ông Thắng vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này ông Thắng có chứng cứ khác chứng minh có nợ chung và ông Thắng có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bà Trương Thị Huệ là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các l trên;

QUY T ĐỊNH

Căn cứ các Điều 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Huệ.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trương Thị Huệ với ông Lê Minh Thắng là quan hệ vợ chồng;

Về quan hệ con chung: Ông Thắng tiếp tục nuôi 02 con chung: 1/ Lê Thị Thúy Liễu, sinh ngày 05/3/2011; 2/ Lê Hoàng Giang, sinh ngày 19/4/2015

Bà Huệ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Thắng cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà Huệ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Trương Thị Huệ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023802 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (bà Huệ nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/5/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ