- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "án dân sự tranh chấp hợp đồng vay Huỳnh Thế H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thế H.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2025/DS - ST Ngày 23-9-2025 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Minh
Ông Nguyễn Văn Y
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Liễu Hạnh là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Duy Ngọc Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Thế H, sinh năm 1988 (Có mặt)
Trú tại: Ấp MH, xã LT, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là ấp MH, xã ML, huyện CL, tỉnh Tiền Giang).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng Q, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Trú tại: Ấp N, xã LĐ, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là ấp N, xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 21/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Huỳnh Thế H trình bày:
Chị Nguyễn Thị Mộng Q có mượn tiền của anh Huỳnh Thế H nhiều lần, cụ thể: Ngày 22/8/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Ngày 27/8/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Ngày 08/10/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Ngày 09/10/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); Ngày 21/10/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); Ngày 23/10/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Ngày 03/11/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Ngày 04/11/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Ngày 07/11/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Ngày 13/11/2024, chị Q có mượn anh H số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Tổng cộng chị Q mượn anh H 10 lần với tổng số tiền mượn là 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), hẹn đến ngày 14/01/2025 trả đủ cho anh H, nhưng đến nay chị Q vẫn chưa trả cho anh H, anh H đã nhiều lần liên lạc qua điện thoại và đến nhà nhưng chị Q cứ hẹn mà không trả tiền cho anh H.
Anh Huỳnh Thế H khởi kiện chị Nguyễn Thị Mộng Q yêu cầu chị Q trả cho anh H số tiền là 440.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Mộng Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bản tự khai để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 39, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thế H. Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị Mộng Q có nghĩa vụ trả cho anh Huỳnh Thế H số tiền là 440.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn anh Huỳnh Thế H và bị đơn chị Nguyễn Thị Mộng Q là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Mộng Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Thế H: Căn cứ vào liệt kê giao dịch tài khoản, trình bày của anh H thể hiện: Anh Huỳnh Thế H cho chị Nguyễn Thị Mộng Q vay tiền nhiều lần, qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản của chị Q với tổng số tiền là 440.000.000 đồng, cụ thể như sau: Ngày 22/8/2024, anh H chuyển số tiền là 30.000.000 đồng; Ngày 27/8/2024, anh H chuyển số tiền là 30.000.000 đồng; Ngày 08/10/2024, anh H chuyển số tiền là 60.000.000 đồng; Ngày 09/10/2024, anh H chuyển số tiền là 40.000.000 đồng; Ngày 21/10/2024, anh H chuyển số tiền là 50.000.000 đồng; Ngày 23/10/2024, anh H chuyển số tiền là 30.000.000 đồng; Ngày 03/11/2024, anh H chuyển số tiền là 100.000.000 đồng; Ngày 04/11/2024, anh H chuyển số tiền là 30.000.000 đồng; Ngày 07/11/2024, anh H chuyển số tiền là 10.000.000 đồng; Ngày 13/11/2024, anh H chuyển số tiền là 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh H trình bày: Chị Q vay của anh tổng số tiền là 440.000.000 đồng, không tính lãi suất. Sau khi vay, chị Q chưa trả được khoản tiền nào cho anh H. Chị Q hứa sẽ trả tiền cho anh H vào ngày 14/01/2025 nhưng cho đến nay chị Q vẫn chưa trả tiền cho anh H là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, anh Huỳnh Thế H khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Mộng Q trả lại số tiền vay là 440.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc chị Nguyễn Thị Mộng Q trả cho anh Huỳnh Thế H số tiền là 440.000.000 đồng. Anh Huỳnh Thế H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, các Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thế H.
1. Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị Mộng Q trả cho anh Huỳnh Thế H số tiền là 440.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.600.000 đồng.
Hoàn lại anh Huỳnh Thế H số tiền tạm ứng án phí là 10.800.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000254 ngày 02/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Mộng Q không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 3 – Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Kim Hằng |