- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Lê An Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2024/HSST Ngày: 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Thúy Hảo
2. Ông Hồ Sĩ Tiến
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê An Đ, tại TP. Hồ Chí Minh; HKTT: Phường 11, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh; Nơi ở trước khi bị bắt: phòng trọ tại địa chỉ phường Nguyễn An Ninh, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Lê Văn H (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị L; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Họ tên vợ: Trần Thị Kim Q (đã ly thân); Có 02 người con.
Tiền án: không
Tiền sự: Ngày 04/01/2023, bị Tòa án nhân dân TP. Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng.
Nhân thân: Ngày 24/6/2015, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/01/2016 chấp hành xong.
Bị bắt ngày 22/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt)
Bị hại: chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T; nơi thường trú: Thị trấn Long Điền, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023, Lê An Đ do thiếu tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma tuý nên nảy sinh ý định đi tìm kiếm tài sản sơ hở của người dân để chiếm đoạt. Đ đạp xe đạp ra khu vực công viên Bãi Trước thuộc Phường 1, TP. Vũng Tàu, sau đó cất xe, đi bộ dọc khu vực vỉa hè nhiều vòng để quan sát xung quanh, tìm kiếm tài sản sơ hở. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ quan sát thấy nhóm người đang đứng trang trí đèn noel, bên cạnh có 01 ghế đá, trên ghế đá có 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR của chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T (nơi thường trú: TT Long Điền, huyện Long Điền, tỉnh BR-VT). Quan sát xung quanh thấy không ai để ý nên Đ đã đến gần lén lút trộm cắp điện thoại bỏ vào túi quần rồi bỏ đi. Đi khoảng 05 mét thì bị anh Nguyễn Thành H (Trú tại: Phường 11, TP. Vũng Tàu) phát hiện và báo Công an đến bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Lê An Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐ ĐG-TTHS ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu cam; Số IMEI: 357379095005622 có giá trị 2.600.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu cam; Số IMEI: 357379095005622. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP. Vũng Tàu đã ra quyết định xử lý vật chứng hình thức trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: bị hại không yêu cầu.
Bản cáo trạng số 73/CT-VKSTPVT ngày 14/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Lê An Đức về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê An Đ về tội “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê An Đức mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023, tại khu vực công viên Bãi Trước thuộc Phường 1, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê An Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu cam; Số IMEI: 357379095005622 của chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T, trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, hành vi bị cáo đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và trật tự an toàn xã hội.
Về nhân thân: Bản thân bị cáo là thanh niên trưởng thành, có đủ sức khỏe để lao động chân chính nuôi sống bản thân, bị cáo đã từng bị xét xử, bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm pháp luật về xâm phạm quyền sở hữu tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa bản thân, không làm ăn lương thiện mà sa vào ăn chơi, lêu lổng, không có việc làm ổn định và tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra và tại Tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bị hại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XR màu cam; Số IMEI: 357379095005622 là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Lê An Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê An Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3] Về vật chứng: Đã xử lý xong
[4] Về án phí: Bị cáo Lê An Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại, do vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Ngô Thị Thúy Hảo
Hồ Sĩ Tiến
Phạm Thị Hiếu
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; bị hại;
Phạm Thị Hiếu
- Lưu hồ sơ vụ án
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Ngô Thị Thúy Hảo
Hồ Sĩ Tiến
Phạm Thị Hiếu Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; bị hại; NCQL&NVLQ
- Lưu hồ sơ vụ án
Phạm Thị Hiếu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an tỉnh BR-VT (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Vũng Tàu; - Công an thành phố Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Bị cáo; bị hại; NCQL&NVLQ - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Thị Hiếu |