- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 28-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Sơn, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H, sinh năm 1992 tại tỉnh Đắk Lắk; thƣờng tr : Tổ B, Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Số D, đƣờng A, khu phố E, phƣờng B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ h c vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên ch a; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951 (đã chết); có 01 chị ruột, sinh năm 1976; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023 cho đến nay; có m t.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002; thƣờng trú: Xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số D, đƣờng B, khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; có đơn yêu cầu giải quyết vắng m t.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đ ng Thái T, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số A khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; có đơn yêu cầu giải quyết vắng m t.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Phạm Thế A; vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Thanh H là công nhân thời vụ tại kho Lazada thuộc tổng kho “Đ ng Huỳnh ", địa chỉ tại số A, khu công nghiệp S, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Ngày 01/12/2023, khi vừa hoàn thành ca làm việc, H đi vào nhà ăn của kho để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, H thấy 01 (một) ba lô màu đen của anh Nguyễn Văn Q (công nhân làm việc chung với H tại kho L) để trên kệ sắt, l c này, thấy không có ai nên H đi đến khu vực kệ sắt, dùng tay phải mở khóa kéo ngăn đầu tiên của balo để lục tìm tài sản nhƣng không thấy, H tiếp tục mở khóa kéo ngăn thứ hai thì phát hiện có 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y36 màu đen nhám, H cất điện thoại vào t i quần bên phải rồi đi về phòng tr của mình (địa chỉ số D, đƣờng A, khu phố E, phƣờng B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh). Tại phòng tr , H lấy điện thoại ra xem thì thấy điện thoại bị khóa mật khẩu, nên đã tắt nguồn khởi động lại điện thoại và bấm các n t chức năng để cài đ t điện thoại về chế độ m c định ban đầu, rồi cài mật khẩu mới là 2292. Cùng ngày, anh Nguyễn Văn Q sau khi hoàn thành công việc, phát hiện mình bị mất trộm tài sản nên đã nhờ bảo vệ trích xuất camera và xác định đƣợc Nguyễn Thanh H là ngƣời trộm cắp điện thoại của mình.
Đến 09 giờ 00 ph t ngày 02/12/2023, Nguyễn Thanh H mang điện thoại vừa trộm cắp đƣợc đến tiệm cầm đồ “Thảo Vân”, địa chỉ số A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng do anh Đ ng Thái T làm chủ, để cầm cố với số tiền 3.000.000 đồng, số tiền cầm cố đƣợc H dùng cho việc trả tiền nợ, chi phí sinh hoạt cá nhân. Ngày 12/12/2023, Nguyễn Thanh H quay lại kho Lazada làm việc thì bị anh Nguyễn Văn Q phát hiện. Sau đó, H đến Công an phƣờng A để đầu th về hành vi phạm tội của mình.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y36 màu đen nhám, số Seri: 10AD8P1M770023T và 01 (một) căn cƣớc công dân tên Nguyễn Thanh H, số F.
* Căn cứ bản Kết luận định giá số: 222/BBĐG-HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo loại Y36, màu đen nhám có giá 3.400.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 222/BBĐG-HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D- Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Đối với anh Đ ng Thái T, chủ tiệm cầm đồ “Thảo Vân”, bản thân anh T không biết chiếc điện Vivo loại Y36, màu đen nhám do Nguyễn Thanh H mang đến để cầm cố là tài sản trộm cắp mà có, bản thân H trƣớc khi đi cầm đồ, đã thay đổi mật khẩu điện thoại nhằm làm cho anh T tin đây là tài sản của H mà nhận cầm cố, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề cập xử lý hình sự đối với anh T1.
Tại cáo trạng số: 97/CT – VKS - DA ngày 28 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H với mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y36 màu đen nhám, số S: 10AD8P1M770023T, hiện đã thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Văn Q nên không đ t ra xem xét.
- Đối với 01 (một) căn cƣớc công dân tên Nguyễn Thanh H, số F, là giấy tờ tùy thân của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại Căn cƣớc công dân trên cho bị cáo H.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q, bị hại không yêu cầu gì, đồng thời ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đ ng Thái T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố 3.000.000 đồng nên trách nhiệm dân sự không đ t ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát, đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Nguyễn Văn Q và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đ ng Thái T có đơn yêu cầu giải quyết vắng m t. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng m t bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20 giờ 00 ph t ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại kho Lazada thuộc tổng kho “Đ ng Huỳnh ", địa chỉ tại số A, khu công nghiệp S, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Nguyễn Thanh H có hành vi lén l t chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo loại Y36, màu đen nhám có giá 3.400.000 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo lén l t chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 3.400.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 97/CT - VKS - DA ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm tr ng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm tr ng; phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn; bị hại có yêu cầu giảm nh hình phạt cho bị cáo, đồng thời sau khi phạm tội bị cáo đầu th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự và ngƣời lao động nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm tr ng, xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, chiếm đoạt tài sản có giá trị không lớn (3.400.000 đồng), vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 hạ khung hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y36 màu đen nhám, số S: 10AD8P1M770023T, hiện đã thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Văn Q và đối với 01 (một) căn cƣớc công dân tên Nguyễn Thanh H, số F, là giấy tờ tùy thân của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại căn cƣớc công dân trên cho bị cáo H nên không đ t ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q, bị hại không yêu cầu gì khác đồng thời ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đ ng Thái T yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố 3.000.000 đồng nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.
Đối với anh Đ ng Thái T, chủ tiệm cầm đồ “Thảo Vân”, bản thân anh T không biết chiếc điện Vivo loại Y36, màu đen nhám do Nguyễn Thanh H mang đến để cầm cố là tài sản trộm cắp mà có, bản thân H trƣớc khi đi cầm đồ, đã thay đổi mật khẩu điện thoại nhằm làm cho anh T tin đây là tài sản của H mà nhận cầm cố, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề cập xử lý hình sự đối với anh T1, là đ ng theo quy định của pháp luật.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra điều luật áp dụng đối với bị cáo; những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng cũng nhƣ trách nhiệm dân sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận. Còn mức hình phạt: Xét thấy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng nhƣ giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt không lớn nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 03 (ba) tháng 17 (mƣời bảy) ngày tù, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến ngày 28/3/2024 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt).
1.2 Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thanh H ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo H không bị tạm giữ, bị bắt tạm giam về một tội phạm nào khác.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (03); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng tr (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hoàng |