vanban.org

Bản án 101/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Trịnh Thị T

Cho bà Nguyễn Trịnh Thị T được ly hôn với ông Hồ Sĩ C Giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Cù Bì, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 04/11/2008 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trịnh Thị T - Hồ Sĩ C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Trịnh Thị T
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hậu

2. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 359/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc “ly hôn, Tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trịnh Thị T, sinh năm: 1988

Nơi cư trú: Tổ 5 khu phố Trảng Lớn, phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bị đơn: Ông Hồ Sĩ C, sinh năm: 1978

Nơi cư trú: Tổ 5 khu phố Trảng Lớn, phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

(Bà T có mặt, ông C vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con đề ngày 01 tháng 7 năm 2024 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Trịnh Thị T trình bày:

Bà và ông Hồ Sĩ C bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cù Bị, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Thời gian đầu chung sống thì bà và ông C chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì xảy ra. Tuy nhiên từ năm 2023 đến năm 2024 thì bà và ông C phát sinh mâu thuẫn do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, rồi về nhà kiếm chuyện gây gổ, đập đồ chửi bới bà và đuổi bà và các con ra ngoài, nhiều lúc ông C say xỉn còn hù dọa, sử dụng bạo lực đối với bà, bà và các con phải chạy ra khỏi nhà vào ban đêm. Giữa bà và ông C không còn tiếng nói chung. Bà và ông C sống ly thân từ ngày 01/3/2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân thì giữa bà và ông C không còn sự quan tâm lẫn nhau, việc ai người đó làm. Nay xét thấy, tình cảm không còn, cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C chung sống có hai con chung là trẻ Hồ Sĩ Q, sinh ngày 23/4/2009 và trẻ Hồ Sĩ Q2, sinh ngày 15/12/2013. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Q và trẻ Q2, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hồ Sĩ C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu ý kiến như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận nguyên đơn bà Nguyễn Trịnh Thị T được ly hôn với ông Hồ Sĩ C

Về con chung: Giao 02 con chung là trẻ Hồ Sĩ Q, sinh ngày 23/4/2009 và trẻ Hồ Sĩ Q2, sinh ngày 15/12/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông C

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Trịnh Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung với ông Hồ Sĩ C. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Hồ Sĩ C cư trú tại tổ 5 khu phố Trảng Lớn, phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Hồ Sĩ C nhưng ông C vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông C là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông C đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà T nhưng ông C vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trịnh Thị T và ông Hồ Sĩ C sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Cù Bị, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trước tòa hôm nay, bà Nguyễn Trịnh Thị T xác định bà và ông Hồ Sĩ C mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông C để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà T khai do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, rồi về nhà kiếm chuyện gây gổ, đập đồ chửi bới bà và đuổi bà và các con ra ngoài, nhiều lúc ông C say xỉn còn hù dọa, sử dụng bạo lực đối với bà, bà và các con phải chạy ra khỏi nhà vào ban đêm. Giữa bà và ông C không còn tiếng nói chung. Bà và ông C sống ly thân từ ngày 01/3/2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân thì giữa bà và ông C không còn sự quan tâm lẫn nhau, việc ai người đó làm. Mặt khác ông C không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà T và ông C không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông C.

Về con chung: Bà T xác nhận bà và ông C có hai con chung là trẻ Hồ Sĩ Q, sinh ngày 23/4/2009 và trẻ Hồ Sĩ Q2, sinh ngày 15/12/2013. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Q và trẻ Q2. Bà T xác nhận trẻ Q và trẻ Q2 hiện nay đang ở cùng bà T. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông C nhưng ông C vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.

Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, Q của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào Q lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thì trẻ Q và trẻ Q2 đều có nguyện vọng được sống với bà T.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm Q lợi về mọi mặt cho trẻ Q và trẻ Q2 tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của hai trẻ, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Q và trẻ Q2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà T và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông C.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà với ông C. Ông C vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung giữa ông và bà T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà T với ông C trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác

Về nợ chung: Bà T xác nhận bà và ông C không có nợ chung. Ông C vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề nợ chung giữa ông và bà T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề nợ chung giữa bà T và ông C trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí: Bà Nguyễn Trịnh Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Trịnh Thị T

Cho bà Nguyễn Trịnh Thị T được ly hôn với ông Hồ Sĩ C

Giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Cù Bì, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 04/11/2008 không còn giá trị pháp lý.

2.

Về con chung: Giao hai con chung là trẻ Hồ Sĩ Q, sinh ngày 23/4/2009 và trẻ Hồ Sĩ Q2, sinh ngày 15/12/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông C.

Ông C có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

4.

Về án phí: Bà Nguyễn Trịnh Thị T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003882 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí.

5.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6.

Về Q kháng cáo: Bà Nguyễn Trịnh Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ông Hồ Sĩ C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ