- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức và bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Hương – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 620/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Anh T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Anh Trương Quốc V, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, chị Phạm Anh T có mặt, anh Trương Quốc V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Phạm Anh T trình bày: Chị và anh Trương Quốc V do tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2022, có tổ chức đám cưới và có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P vào ngày 19/12/2022. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau một con chung tên Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023. Tuy nhiên đến tháng 10/2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V không lo cho gia đình, không có trách nhiệm trong việc xây dựng tài sản chung cho gia đình; thường xuyên ăn chơi; vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã ly thân từ đó đến nay.
Nay, chị Phạm A thư nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Phạm Anh T yêu cầu được ly hôn anh Trương Quốc V;
Về con chung: Có một con chung tên Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023. Khi ly hôn chị Phạm Anh T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Trương Quốc V cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Trương Quốc V để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trương Quốc V vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Trương Quốc V cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho anh Trương Quốc V biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng anh Trương Quốc V cũng không có ý kiến phản hồi.
Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Phạm Anh T trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Trương Quốc V; yêu cầu được nuôi cháu Trương Phạm Nhất K và không yêu cầu anh Trương Quốc V cấp dưỡng cho con.
Bị đơn anh Trương Quốc V vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, chị Phạm Anh T có mặt, anh Trương Quốc V vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Anh T
Về hôn nhân: Chị Phạm Anh T được ly hôn với anh Trương Quốc V.
Về con chung: Giao con chung tên Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023 cho chị Phạm Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trương Quốc V không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Phạm Anh T và anh Trương Quốc V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2022 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 19/12/2022). Anh Trương Quốc V có địa chỉ thường trú tại: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Phạm Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trương Quốc V; yêu cầu được nuôi con chung là Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tại phiên tòa, chị Phạm Anh T có mặt, anh Trương Quốc V vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Xét việc tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Anh T và anh Trương Quốc V xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/12/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị Phạm Anh T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng do anh V không lo cho gia đình, không có trách nhiệm trong việc xây dựng tài sản chung cho gia đình; thường xuyên ăn chơi; vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Anh Trương Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Anh T và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ thể hiện phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Anh T cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Phạm Anh T được ly hôn với anh Trương Quốc V.
[2.2] Về con chung: Chị Phạm Anh T trình bày chị và anh Trương Quốc V có một con chung là Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023, hiện tại cháu K đang sống cùng chị T. Xét thấy, việc giao cháu K cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Anh T giao cháu Trương Phạm Nhất K cho chị Phạm Anh T tiếp tục nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng cho con:
Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Phạm Anh T vẫn không yều cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Phạm Anh T trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Chị Phạm Anh T trình bày không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Anh T.
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Anh T được ly hôn với anh Trương Quốc V.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Phạm Nhất K, sinh ngày 07/9/2023 cho chị Phạm Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Quốc V không cấp dưỡng cho con.
Anh Trương Quốc V và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Phạm Anh T. Chị Phạm Anh T và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trương Quốc V trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản:
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Phạm Anh T xác định không có nợ chung. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Phạm Anh T và anh Trương Quốc V phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí:
Chị Phạm Anh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013512 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Phạm Anh T đã nộp đủ.
Anh Trương Quốc V không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (1); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn (1); - Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (1); - Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (1); - Các đương sự (2); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |