- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Thùy T ly hôn với ông Trần Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 288 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Liêm và ông Nguyễn Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã T, huyện T, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2024, cùng các văn bản khác kèm theo nguyên đơn là bà Phạm Thị Thùy T trình bày:
Về hôn nhân, bà (Phạm Thị Thùy T) và ông Trần Văn N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017, có đăng ký kết hôn được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh C chứng nhận kết hôn ngày 22/9/2022. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, về sau vợ chồng bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau nên thường tranh cải mà không thể tự hòa giải, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, bà và ông Trần Văn N không còn chung sống với nhau. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn N. Về con chung, có 01 người tên là Phạm Bảo N (giới tính nữ) sinh ngày 21/01/2024. Hiện con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận, không yều cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Trần Văn N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ để Toà án xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là bà Phạm Thị Thùy T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Trần Văn N vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
[2]. Xét về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thùy T và ông Trần Văn N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thùy T và ông Trần Văn N được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không tin tưởng nhau và thường xuyên cải nhau nên không thể hoà giải và không thể tiếp tục cuộc sống chung mặc dù đã được gia đình hoà giải, hàn gắn nhiều lần. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn N. Ông Trần Văn N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ để Toà án xem xét. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thùy T và ông Trần Văn N đã và đang trầm trọng. Do đó, việc cho bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn N là có căn cứ để chấp nhận.
[3]. Về con chung, có 01 người tên là Phạm Bảo N (giới tính nữ) sinh ngày 21/01/2024, hiện tại do bà Phạm Thị Thùy T tiếp nuôi dưỡng, bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, hiện tại con chung dưới 36 tháng tuổi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Phạm Bảo N cho bà Phạm Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Ông Trần Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu tự thỏa thuận, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Phạm Thị Thùy T phải chịu chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Thùy T ly hôn với ông Trần Văn N.
2. Về con chung: Giao Phạm Bảo N (giới tính nữ) sinh ngày 21/01/2024 cho bà Phạm Thị Thùy T chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Phạm Bảo N đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng, bà Phạm Thị Thùy T đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015085, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển; - UBND xã T, huyện T, tỉnh C; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Phước |