- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Lý - Nguyễn Hữu Tuấn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L, xử bà Nguyễn Thị L với ông Nguyễn Hữu T ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2024 V/v “Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Uyên Phương.
2. Ông Nguyễn Đình Phi.
- T ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 303/2024/TLST – HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về vụ việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 662/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 974/2024/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Tổ 6, thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Tổ 6, thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà L có mặt. Ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 21/4/2003. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi, có thời gian tìm hiểu. Thời gian đầu hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T hay nhậu nhệt, gây áp lực tinh thần, tình cảm không hợp nhau kéo dài, gia đình lục đục không thể giải quyết được, xung đột gia đình xảy ra không thể hàn gắn được, không có tiếng nói chung, không đồng quan điểm sống, do không hợp tính tình, lối sống, vợ chồng không còn yêu Tơng nhau, không sống chung với nhau, mạnh ai nấy sống không quan tâm đến nhau. Trước đây bà đã từng nộp đơn yêu cầu ly nhưng sau khi rút đơn khởi kiện về cuộc sống vẩn không thay đổi. Mâu thuẫn ngày càng trầm trong hơn. Hai năm nay không sống chung với nhau.
Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn ông T.
- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2004 và Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012. Hiện nay 02 con chung đang sống với bà do bà chăm sóc và nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị L yêu cầu nuôn 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Theo bị đơn ông Nguyễn Hữu T:
Ông Nguyễn Hữu T không trình bày ý kiến gì nộp cho Toà án.
* Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã thực hiện việc tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và T ký tại phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L, xử cho bà Nguyễn Thị L với ông Nguyễn Hữu T ly hôn.
Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị L nuôi con chung cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012 cho đến ngày con chung thành niên. Ông Nguyễn Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và bị đơn ông Nguyễn Hữu T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Hữu T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hữu T.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy hôn nhân giữa bà L và ông T là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức hỏi, cưới theo phong tục tập quán. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 21/4/2003. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó, hai vợ chồng chuyển về xã L, huyện Đ sinh sống cho đến nay. Đến năm 2020 thì Tờng xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bạo lực gia đình, ông T không chịu lao động, xúc phạm gia đình bà mặc dù bà đã bỏ qua nhiều lần nhưng vẫn tái diễn. Trước đây, bà đã nộp đơn yêu cầu ly hôn tại Toà án và đã rút đơn khởi kiện nhưng ông T vẫn không thay đổi, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ, không thống nhất trong việc làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình, mặc dù đã cố hàn gắn nhiều lần nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm lẫn nhau và không có trách nhiệm đối với nhau, đời sống chung vợ chồng đã chấm dứt từ năm 2020 cho đến nay không sống chung với nhau.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ L vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải cho ông T. Toà án tiến hành tống đạt kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû, giaáy trieäu taäp tham gia phiên tòa cho ông T. Tiến hành tiến hành tống đạt quyeát ñònh hoaõn phieân toøa, giaáy trieäu taäp tham gia phiên tòa cho ông T nhưng ông T không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết Tòa án triệu tập ông T để hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt. Điều này thể hiện ông T không có thiện chí níu kéo cuộc hôn nhân giữa ông T và bà L. Xét thấy, hôn nhân giữa bà L và ông T tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L được ly hôn với ông T là phù hợp, đúng pháp luật.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông T và bà L có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2004 và Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012 đang ở với bà L, do bà L chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2004 đã thành niên ở với ai thì tuỳ nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012 ở với bà L. Cháu T được chăm sóc, học hành, phát triển bình Tờng nên cần giao cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012 cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ, đúng pháp luật. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bà L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 220, 227, 228, 232, 264, 266 và Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L, xử bà Nguyễn Thị L với ông Nguyễn Hữu T ly hôn.
- Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị L nuôi con chung cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 07/6/2012 cho đến ngày con chung thành niên.
Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; Yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị L đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003940 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Như vậy, bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng ông Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (đăng ký kết hôn số 12, quyển số 01/2003, ngày 21/4/2003); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vũ |