vanban.org

Bản án 101/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 23/07/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H về việc:

Hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Cập nhật sang tên GCNQSD đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H về việc:
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 168 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HC-ST
Ngày: 23-7-2024
V/v khiếu kiện hành vi hành chính về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

2. Bà Lê Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2024/TLST-HC ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

,

- Người khởi kiện: Bà Đoàn Thị Nguyên H, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trương Ngọc N, sinh năm: 1965 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 02/01/2024).

Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1953 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1959 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Đoàn Thị Nguyên H và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Trương Ngọc N trình bày:

Bà Đoàn Thị Nguyên H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1, thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C2, địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận công chứng vào ngày 01/12/2023; số công chứng 004076 quyển số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 71, diện tích đất: 310m2 tọa lạc tại khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156524; số vào sổ CS 01506 ngày 30/01/2019 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp.

Ngày 15/11/2023, bà Đoàn Thị Nguyên H nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân thành phố P để đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến ngày 14/12/2023, bà Đoàn Thị Nguyên H liên hệ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân thành phố P để nhận hồ sơ theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả thì được biết hồ sơ của bà H bị hoàn trả, có kèm theo Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H.

Trong nội dung thông báo nêu: “Thửa đất bà đăng ký chuyển quyền thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích 310m2; đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, vị trí đất tại khu phố A, phường H, thành phố P. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại đô thị được phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất chuyên dùng) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt...” nên Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ đăng ký biến động theo quy định mà hoàn trả hồ sơ xin đăng ký của bà Đoàn Thị Nguyên H.

Căn cứ Luật đất đai năm 2013, trường hợp thửa đất mà bà Đoàn Thị Nguyên H nhận chuyển nhượng chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đủ các quyền chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định. Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình trong việc đăng ký biến động chuyển nhượng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H là trái pháp luật và làm hạn chế quyền của người sử dụng đất mà đã được pháp luật bảo vệ.

Việc Chi nhánh văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ của bà Đoàn Thị Nguyên H là không đúng quy định của Luật đất đai đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bà H .

Do đó, bà Đoàn Thị Nguyên H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H.

+ Buộc Chi nhánh văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H theo đúng quy định của pháp luật.

* Tại văn bản số 1467/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 16/5/2024, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo văn bản số 4220/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 10/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

* Tại văn bản số 4220/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 10/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:

Ngày 04/12/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H tại biên nhận số 2023-20071/TNHS.

Bà Đoàn Thị Nguyên H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4076, quyển số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/12/2023 tại Văn phòng Công chúng Huỳnh Lê H2 đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích 310 m2 (gồm 103,4m2 đất ở tại đô thị và 206,6m2 đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất tại khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156524 do Sở T cấp ngày 30/01/2019 cho ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1.

Tuy nhiên, qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở của thửa đất số 31, tờ bản đổ số 71 theo Giấy chứng nhận số CQ 156524 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Văn N1 được chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất chuyên dùng) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B. Căn cứ Quyết định 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018, UBND thành phố P đã ký cấp các Giấy chứng nhận số CP 594361, CP 594362, CP 594363 và CP 594364 ngày 05/12/2018 cho ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Văn N1. Sau đó, tách thửa đất thành 04 thửa đất theo thỏa thuận, trong đó ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 đúng tên thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Như vậy, hiện nay Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo, giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 12/12/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Đoàn Thị Nguyên H được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản số 4005/UBND-KSTTHC ngày 20/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Thửa đất mà bà Đoàn Thị Nguyên H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích 310m2 (gồm: 103,4m2 đất ở tại đô thị và đất 206,6m2 đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất tại khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) số CQ 156524 do Sở T cấp ngày 30/01/2019 cho ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1.

Thửa đất này có nguồn gốc từ thửa đất số 78, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.138m2 đất trồng cây lâu năm được UBND thành phố P cấp cho các đồng sở hữu tại các Giấy chứng nhận: số BH 661668 ngày 07/12/2011 cho ông Huỳnh Văn C; số BH 661671 ngày 07/12/2011 cho ông Trần Quang S; số BH 661670 ngày 07/12/2011 cho ông Tống Văn Đ; số BH 661669 ngày 07/12/2011 cho ông Đỗ Quang N2.

Ngày 31/8/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6257/QĐ-UBND cho phép ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 được chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.138m2 từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn với diện tích 400m2, thời hạn sử dụng đất lâu dài và được UBND thành phố P cấp đổi thành 04 Giấy chứng nhận: số CP 594364 ngày 05/12/2018 cho ông Huỳnh Văn C; số CP 594363 ngày 05/12/2018 cho ông Trần Quang S; số CP 594362 ngày 05/12/2018 cho ông Tống Văn Đ; số CP 594361 ngày 05/12/2018 cho ông Đỗ Quang N2 có cùng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 71, diện tích 1.134,6m2 (gồm: 400m2 đất ở tại đô thị và đất 734,6m2 đất trồng cây lâu năm). Sau đó, tách thửa đất số 13, tờ bản đồ số 71 thành 04 thửa, trong đó ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 được đứng tên thửa đấ số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích diện tích 310m2 (gồm: 103,4m2 đất ở tại đô thị và đất 206,6m2 đất trồng cây lâu năm) tại Giấy chứng nhận số CQ 156524 do Sở T cấp ngày 30/01/2019.

Tại Quyết định số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 được chuyển mục đích sử dụng đất thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử đụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.

Căn cứ Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 150-2018 hệ tọa độ VN B, khu vực đô thị, khu phố A, tờ số 71 (212 464-6-(13)) do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 20/7/2018 kèm theo Quyết định số 6257/QĐ- UBND ngày 31/8/2018 của UBND thành phố P thì:

- Đối chiếu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử đụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất chuyên dùng.

- Đối chiếu Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất thương mại dịch vụ.

Căn cứ điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt và không đúng quy định của pháp luật.

Ngày 12/12/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H. Do đó, đối với nội dung mà bà Đoàn Thị Nguyên H yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chỉ nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.

UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Đoàn Thị Nguyên H, hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Bà Đoàn Thị Nguyên H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho bà Đoàn Thị Nguyên H theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích 310m2 tọa lạc tại Khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CQ 156524 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/01/2019.

Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo Điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T1 - Bộ N3 - Bộ T2 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân. Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 15/3/2024, bà Đoàn Thị Nguyên H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của bà H là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Diện tích đất có nguồn gốc từ thửa đất số 78, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.138m2 đất trồng cây lâu năm được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho các đồng sở hữu tại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BH 661668 ngày 07/12/2011 cho ông Huỳnh Văn C; số BH 661671 ngày 07/12/2011 cho ông Trần Quang S; số BH 661670 ngày 07/12/2011 cho ông Tống Văn Đ; số BH 661669 ngày 07/12/2011 cho ông Đỗ Quang N2.

Ngày 31/8/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6257/QĐ-UBND cho phép ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 được chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.138m2 từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại đô thị với diện tích 400m2 và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp đổi thành 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số CP 594364 ngày 05/12/2018 cho ông Huỳnh Văn C; số CP 594363 ngày 05/12/2018 cho ông Trần Quang S; số CP 594362 ngày 05/12/2018 cho ông Tống Văn Đ; số CP 594361 ngày 05/12/2018 cho ông Đỗ Quang N2 có cùng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 71, diện tích 1.134,6m2 (gồm: 400m2 đất ở tại đô thị và đất 734,6m2 đất trồng cây lâu năm).

Sau đó, các đồng sở hữu ông Huỳnh Văn C, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 thỏa thuận phân chia và tách thửa đất số 13, tờ bản đồ số 71 thành 04 thửa, trong đó ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 được đứng tên thửa đất số 31, tờ bản đồ số 71, diện tích diện tích 310m2 (gồm: 103,4m2 đất ở tại đô thị và đất 206,6m2 đất trồng cây lâu năm) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156524 do Sở T cấp ngày 30/01/2019.

Ngày 01/12/2023, vợ chồng ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho bà Đoàn Thị Nguyên H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 004076, quyển số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2.

Theo Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H thì việc trả hồ sơ đăng ký biến động của bà Đoàn Thị Nguyên H là do phần diện tích đất ở tại đô thị thuộc thửa đất số 31 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp với quy hoạch đất ở theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định cho chuyển mục đích số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại đô thị đối với diện tích 400m2 thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 6, các đồng sở hữu ông Huỳnh văn C1, ông Trần Quang S, ông Tống Văn Đ và ông Đỗ Quang N2 đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156524 ngày 30/01/2019 mang tên ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1.

Mặc dù, tại văn bản số 4005/UBND-NC ngày 20/6/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến gửi cho Tòa án về nội dung khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H cho rằng căn cứ vào Điều 52 Luật đất đai năm 2013 việc UBND thành phố P cho chuyển mục đích đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định cho chuyển mục đích số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P là không phù hợp với quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật. Nhưng đến thời điểm hiện nay thì Quyết định cho chuyển mục đích số 6257/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật, hiện nay thửa đất nêu trên cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Như vậy, vợ chồng ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đoàn Thị Nguyên H theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai là đúng quy định pháp luật.

Việc bà Đoàn Thị Nguyên H nhận quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai.

Do đó, việc vợ chồng ông Huỳnh Văn C và bà Phạm Thị H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đoàn Thị Nguyên H là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật nên thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.

Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho bà Đoàn Thị Nguyên H làm ảnh hưởng quyền lợi của bà H.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí hành chính theo quy định của pháp luật. Bà Đoàn Thị Nguyên H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 191 của Luật Đất đai;

- Điều 60, Điều 61, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Nguyên H về việc:

- Hủy Thông báo số 1812/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Đoàn Thị Nguyên H.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đoàn Thị Nguyên H số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000215 ngày 27/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ