vanban.org

Bản án 101/2024/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 27/02/2024 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Mai Quốc Tr.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. 1/. Bác khởi kiện của ông Mai Quốc Tr đối với yêu cầu hủy Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/07/2022 ngày 14/07/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố C, Quyết đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Mai Quốc Tr kiện UBND TP C"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Mai Quốc Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 225 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 242 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HC-PT
Ngày 27 - 02 - 2024
V/v khiếu kiện quyết định hành chính về
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa;

Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 757/2023/TLPT-HC ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3116/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Mai Quốc Tr, sinh năm 1980. (có mặt)

Địa chỉ: đường N, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bị kiện:

1/. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

2/. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C: Ông Võ Truyền Th - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C. (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: đường 30/4, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Mai Quốc Tr.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện ngày 28/9/2022, đơn khởi kiện ngày 11/11/2022, ngày 13/02/2023 người khởi kiện ông Mai Quốc Tr trình bày:

Nguồn gốc đất: Ông Tr có một phần đất diện tích 347,1m2 thuộc thửa số 4269, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV676585, số vào sổ cấp GCN: CS02657 ngày 05 tháng 06 năm 2020 cho ông Mai Quốc Tr đứng tên.

Diện tích đất này năm 2020 ông sang nhượng lại của vợ chồng ông bà Trần Điền A, Nguyễn Thị Mỹ H với giá trị thực tế là 1.850.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), có hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số tiền 46.250.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) .

Ngày 26/7/2022 ông nhận được Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C thu hồi phần đất diện tích 347,1m2 thuộc thửa 4269, tờ bản đồ số 17 do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C Lê Quang Tr ký ban hành; Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc bồi thường, hỗ trợ bằng tiền phần diện tích đất của ông do giải tỏa để thực hiện công trình Trường Trung học phổ thông thành phố C, tổng số tiền là 394.055.600 đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm đồng) do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C Lê Quang Tr ký ban hành.

Ngày 31/8/2022 ông nhận được Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất diện tích 347,1m2 thuộc thửa 4269, tờ bản đồ số 17 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C - Võ Phan Thành M ký ban hành.

Giá đất bồi thường là 1.036.000 đồng/m2 và luôn cả cây trồng trên mặt đất tổng số tiền là 394.055.600 đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm đồng).

Với giá bồi thường đó không phù hợp giá đất phổ biến trên thị trường hiện nay, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, do đó ông không đồng ý giá bồi thường theo Quyết định của ông Lê Quang Tr đã ký.

Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp hủy Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất để thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C, Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc bồi thường, hỗ trợ, Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Theo Văn bản ý kiến số 318/UBND-TNMT ngày 17/02/2023, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C trình bày:

Nội dung yêu cầu của người khởi kiện:

- Hủy Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất để thực hiện công trình trường trung học phổ thông thành phố C.

- Hủy Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc bồi thường, hỗ trợ.

- Hủy Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Ủy ban nhân dân thành phố C có ý kiến như sau:

Ngày 11/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 722/QĐ-UBND về việc thu hồi đất thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng.

Căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất:

+ Căn cứ Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013.

+ Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

+ Căn cứ Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

+ Căn cứ Quyết định số 32/QĐ-UBND-NĐ ngày 15/02/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quy định về việc phê duyệt bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2022 thành phố C.

- Ngày 14/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 759/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Mai Quốc Tr do giải toả thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C là để đền bù những thiệt hại về đất và tài sản trên đất bị ảnh hưởng do thu hồi đất để thực hiện dự án.

Căn cứ để ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ:

+ Căn cứ Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013.

+Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

+ Căn cứ Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND ngày 27/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

+ Căn cứ Quyết định số 1090/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ công trình Trường Trung học phổ thông thành phố C.

+ Căn cứ Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất để thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C.

- Ngày 24/8/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1473/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Mai Quốc Tr.

Căn cứ để ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

+ Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019.

+ Căn cứ Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013.

+ Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

+ Căn cứ Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;

+ Căn cứ Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.

+ Căn cứ Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất.

Việc ban hành Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất; Quyết định số 759/QĐ- UBND ngày 14/7/2022 của Uỷ ban nhân dân thành phố C về việc bồi thường, hỗ trợ và Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cưỡng chế thu hồi đất được ban hành là thực hiện đúng theo quy định tại Điều 62, 63, 66, 69, 71, 74 và 75 của Luật đất đai năm 2013.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C cho rằng: Giá đất mà ông Tr chuyển nhượng 1.850.000.000 đồng là trong điều kiện không bình thường đối với loại đất nông nghiệp trong phạm vi đất tại đô thị và chỉ có một hợp đồng duy nhất nên không thể lấy làm căn cứ cho việc bồi thường.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định như sau:

Căn cứ vào quy định tại Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 173, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;

Căn cứ vào quy định tại Điều 62, 66, 67, 68, 69, 70, 71, khoản 2 Điều 74 Luật đất đai 2013;

Căn cứ vào quy định tại Chương 3 về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

Căn cứ vào quy định tại Điều 9, 10, 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Bác khởi kiện của ông Mai Quốc Tr đối với yêu cầu hủy Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/7/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố C, Quyết định 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C.

- Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quốc Tr đối với việc hủy Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/7/2022 về việc thu hồi đất thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2023, người khởi kiện ông Mai Quốc Tr có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Mai Quốc Tr giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tr.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Phần đất thu hồi là đất lúa nên UBND thành phố C căn cứ vào đơn giá đất đã được UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt tại Quyết định số 335/QĐ-UBND-NĐ ngày 15/12/2021, áp giá bồi thường đối với phần diện tích đất thu hồi của ông Tr là đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Mai Quốc Tr, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến tranh luận của các bên, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Mai Quốc Tr làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện UBND thành phố C, Chủ tịch UBND thành phố C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người bị kiện.

Về nội dung:

Ông Mai Quốc Tr khởi kiện yêu cầu hủy: Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/07/2022 của UBND thành phố C về việc thu hồi đất thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C; Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc bồi thường, hỗ trợ và Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 24/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cưỡng chế thu hồi đất. Trong quá trình xét xử sơ thẩm ông Tr rút yêu cầu đối với Quyết định thu hồi đất số 722/QĐ-UBND.

Đối với Quyết định số 759/QĐ-UBND về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất:

Ông Tr không đồng ý với Quyết định số 759/QĐ-UBND vì lý do đơn giá bồi thường 1.036.000đ/m2 là không phù hợp, diện tích đất của ông nhận chuyển nhượng năm 2020 là 1.850.000.000 đồng/m2, hiện tại do Công ty TNHH Thẩm định giá H định giá là 17.416.514 đ/m2. Các phần đất chuyển nhượng khác cùng vị trí đều có đơn giá cao hơn đơn giá bồi thường.

Xét thấy, thực hiện dự án Trường trung học phổ thông thành phố C, ngày 11/7/2022, UBND thành phố C ban hành Quyết định số 722/QĐ-UBND, thu hồi diện tích 347,1m2 đất, thuộc thửa 4269, tờ bản đồ số 17, tại phường H, thành phố C của ông Mai Quốc Tr. Phần diện tích đất thu hồi, ông Tr được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 05/6/2020, diện tích 346,9m2, loại đất trồng lúa.

Nhà nước thu hồi đất của ông Tr theo quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật đất đai 2013, mục đích thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng nên việc bồi thường phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật đất đai 2013: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Theo Phương án số 130/PA-HĐBT,HT&TĐC ngày 01/7/2022 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án công trình Trường trung học phổ thông thành phố C được UBND thành phố C phê duyệt bằng Quyết định số 1090/QĐ-UBND ngày 11/7/2021 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, được xem xét theo Chứng thư thẩm định giá đất số VL 21/11/870/TS-SVC ngày 03/11/2021 của Công ty TNHH Thẩm định giá Tây Nam thì giá của đất trồng lúa tại khu vực I, vị trí 1 tiếp giáp đường Nguyễn Văn Tr và Thiên Hộ D là 1.036.000/1m2, đã được UBND tỉnh Đồng Tháp thống nhất phê duyệt theo Quyết định số 335/QĐ-UBND-NĐ ngày 15/12/2021 về đơn giá đất cụ thể làm cơ sở lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án công trình Trường trung học phổ thông thành phố C.

Việc bồi thường giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi đối với ông Mai Quốc Tr theo Quyết định số 759/QĐ-UBND là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Quyết định số 1473/QĐ-UBND về cưỡng chế thu hồi đất:

Việc UBND thành phố C thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất như đã phân tích trên là đúng quy định pháp luật. Ngày 19/8/2022, UBND Phường tổ chức vận động ông Tr nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng thi công nhưng ông Tr không tham dự cuộc họp nên cùng ngày UBND phường đã lập biên bản về việc vắng mặt theo thư mời số 329/TMUBND ngày 15/8/2022. Do ông Tr không tự nguyện thi hành quyết định thu hồi đất nên ngày 24/8/2022, Chủ tịch UBND thành phố C ban hành Quyết định số 1473/QĐ-UBND cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Tr là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Đất đai 2013.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của ông Mai Quốc Tr là không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện ông Mai Quốc Tr phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Mai Quốc Tr.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Tuyên xử:

1/. Bác khởi kiện của ông Mai Quốc Tr đối với yêu cầu hủy Quyết định số 759/QĐ-UBND ngày 14/07/2022 ngày 14/07/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố C, Quyết định 1473/QĐ-UBND ngày 24/08/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố C.

2/. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quốc Tr đối với việc hủy Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 11/07/2022 về việc thu hồi đất thực hiện công trình Trường trung học phổ thông thành phố C.

3/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4/. Án phí hành chính phúc thẩm: Buộc ông Mai Quốc Tr phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003252 ngày 26/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp vào phần án phí phải chịu.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ