vanban.org

Bản án 101/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 15/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-10-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2023/HS-ST
Ngày 15-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH- TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mạc Thị Lan và ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thiện - kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97B/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh năm 1972. Tên gọi khác: Không; Tại: xã Quỳnh Đ, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Số nhà 31, Ngô T, phường Lam S, thành phố T, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị Q;

Tiền sự: Không

Tiền án: Bản án số 80 ngày 17-11-2022 của Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 4 tháng 3 ngày tù về tội “trộm cắp tài sản”. L đã chấp hành xong bản án ngày 17-11-2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-10-2023 đến ngày 05-10-2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Người bị hại:

Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu dân cư L, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương

Anh Nguyễn Qui T2, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu dân cư L, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989

(Bị cáo có mặt, chị T, anh T2, anh H đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 02-10-2023, Nguyễn Thị L bắt xe khách từ nhà đến đền Kiếp Bạc thuộc thôn Bắc Đẩu, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để đi lễ. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đang thả đèn hoa đăng tại khu ven sông Lục Đầu thuộc thôn Dược Sơn, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh thì L nhìn thấy trong túi áo khoác màu đen bên trái đang mặc của chị Phạm Thị Thảo, sinh năm 1988, trú tại khu dân cư Lôi Động, phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh có một điện thoại. L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, lợi dụng lúc đông người, chị T đang ngồi thả đèn ở phía trước mặt L, L áp sát người chị T rồi dùng tay phải lấy chiếc điện thoại từ trong túi áo của chị Tra thì bị rơi xuống đất nên chị T phát hiện. Lực lượng Công an thành phố Chí Linh đến lập biên bản quả tang và thu giữ 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 256 Gb, bên trong lắp sim số 0977.265.335.

Bản kết luận định giá tài sản số: 44 ngày 05-10-2023, của Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương: Tại thời điểm ngày 02-10-2023 Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1: 355908666661678, số IMEI 2: 355908667121672 bên trong lắp sim Viettel số 0977265335 có giá trị 17.000.000 đồng. Chi phí làm lại sim là 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 17.035.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm ba mươi năm nghìn đồng).

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Cơ quan Công an đã thu giữ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 256 Gb, bên trong lắp sim số 0977.265.335.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Tđã nhận lại chiếc điện thoại, không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 27-11-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại chị Phạm Thị T, anh Nguyễn Qui T2 đều vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Anh T2, chị Txin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Toà án:

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02-10-2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 02-10-2023 tại khu vực ven sông Lục Đầu thuộc thôn Bắc Đẩu, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, do lợi dụng sơ hở của chị Phạm Thị Tvà trong lúc lễ hội đông người, Nguyễn Thị L đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 256G, trong lắp sim Viettel số 0977265335 trị giá 17.035.000 đồng. Chiếc điện thoại là tài sản chung của chị Tvà anh Nguyễn Qui T2. Bị cáo lấy được chiếc điện thoại thì bị chị Tphát hiện nên làm rơi xuống đất. L bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh lập biên bản cùng vật chứng nêu trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tài sản của công dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Năm 2022 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 4 tháng 3 ngày tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong ngày 17-11-2022, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xoá án tích. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Chị Phạm Thị Tvà anh Nguyễn Qui T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật luật hình sự.

. Về hình phạt chính: Khi đánh giá hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần xem xét về nhân thân, điều kiện phạm tội của bị cáo.Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2022 đã bị xử phạt 4 tháng 3 ngày tù về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 17-11-2022 bị cáo chấp hành xong. Bị cáo không lấy đó là bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất cơ hội, không có chủ mưu từ trước. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01điện thoại Iphnone 13 Promax màu xanh, dung lượng 256Gb, trong lắp sim Viettel số 0977265335, ngày 06-11-2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho chị Tlà phù hợp với quy định.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Thảo, anh T2 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Do vậy không đặt ra việc giải quyết về bồi thường dân sự.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-10-2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết.

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ