vanban.org

Bản án 101/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/HS-PT
Ngày: 11-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Ngọc Thông.

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 64/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Văn S, sinh năm 2000 tại Đồng Tháp; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp An L, xã Định A, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn D và bà Châu Thị U; Chưa có vợ con; Tiền sự: Ngày 13/8/2021, bị Công an xã Định A, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa nộp phạt; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 15/6/2021, bị Ủy ban nhân dân xã Định A, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; Bắt truy nã ngày 26/10/2022; Tạm giữ ngày 26/10/2022; Tạm giam ngày 27/10/2022; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn Hoài P (tên gọi khác là Bảy X) và Bùi Văn S là bạn bè hàng xóm láng giềng với nhau cùng ngụ ấp An L, xã Định An, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp. S đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 403/QĐ-XPHC ngày 13/8/2021 của Công an xã Định A, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp mà không chịu ăn năn, hối cải, tiếp tục cùng với P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào buổi chiều ngày 21/8/2021, tại quán nước Út H, P rủ S đi trộm cắp tài sản nhưng S không đi và hẹn khi trộm được sẽ rủ S đi bán để lấy tiền thì S đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 00 phút, 21/8/2021, P điều khiển xe đạp của P đến khu vực ấp An Ph, xã Định A, huyện Lấp V để tìm tài sản trộm. Khi đến nhà của bà Nguyễn Thị H1 thì phát hiện trong sân nhà có trồng cây mai bonsai, bông vàng, hoành gốc 26cm, cao 100cm, đường kính tán 70cm đang trồng trên mô đất thì P nảy sinh ý định lấy trộm cây mai. P trèo qua hàng rào rồi dùng hai tay nhổ cây mai lên mang ra ngoài rồi trèo rào ra ngoài, để lên xe đạp về đến quán cà phê của ông Út H thì điện thoại rủ S cùng đến nhà của Nguyễn Hoàng T ngụ ấp An N, xã Định A, huyện Lấp V để đổi lấy ma túy về sử dụng thì S đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 22/8/2021, P và S đến nhà T, S không vào nhà mà đứng phía trước đợi P, còn P đi vào nhà gặp T, P nói: “Cây mai của gia đình trồng nên bán, nếu có ma túy thì đổi lấy ma túy không lấy tiền”. Thời điểm này, địa phương đang áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp phòng chống dịch Covid 19 nên P đi bán vào ban đêm để lẫn tránh các chốt kiểm dịch thì T tin tưởng nên đồng ý đưa cho P một bịch ma túy rồi P và S cùng nhau sử dụng hết. Tuy nhiên, theo lời khai của T, T không có đổi ma túy với P và S; T nghe P nói cây nhà trồng nên tin tưởng đó là cây của P rồi mang đến bán, T không biết P trộm cắp mà có nên mới đồng ý mua.

- Vụ thứ hai: Vào khoảng 18 giờ ngày 26/8/2021, trong lúc uống cà phê tại quán Út H ở gần nhà thì P rủ S tối nay đi trộm cắp cây mai vàng để bán lấy tiền tiêu xài thì S đồng ý. Đến khoảng 00 giờ ngày 27/8/2021, P mượn xe mô tô nhãn hiệu Dream, không nhớ biển số của anh Cao Văn V1 (hàng xóm láng giềng với P), P nói với anh V1, mượn xe đi mua đồ nên anh V1 đồng ý, P chở S về hướng cầu Út Chấp vào rạch. Trên đường đi, P và S nhìn thấy cây mai bonsai, bông vàng, hoành gốc 42cm, cao 77cm, đường kính tán 75cm đang trồng trong chậu, trước sân nhà của ông Bùi Văn L1 ngụ ấp An L, xã Định A, huyện Lấp V nên P leo hàng rào B40 đi vào trong sân nhà, còn S ngồi đợi ở ngoài xe canh coi, cảnh giới. P đến chỗ cây mai dùng hai tay lắc và nhổ cây mai lên, trèo rào ra ngoài đưa cho S để lên xe. P chở S ngồi phía sau ôm cây mai vừa trộm được đến nhà Nguyễn Hoàng T ngụ ấp An N, xã Định A để đổi ma túy về sử dụng. Đến nhà T, S không gặp trực tiếp T mà đợi ở bên ngoài, còn P gặp T, P nói mai nhà trồng đem đổi lấy ma túy nhưng T nói không còn ma túy thì P và S bỏ lại cây mai trước nhà anh T rồi đi về nhà. Tuy nhiên, theo lời khai của T, T không có đổi ma túy với P và S; P có mang mai đến nhà T nói là mai nhà trồng đem bán nhưng T không mua. Sau đó, P vẫn để ở trước cửa nhà, T sợ cây mai P bỏ lại chết nên mang đi trồng.

Sau khi bị mất trộm tài sản, ngày 08/9/2021 ông Bùi Văn L1 đến trình báo Công an xã Định A về vụ việc trên.

- Vụ thứ ba: Vào khoảng 23 giờ ngày 30/8/2021, P điều khiển xe đạp của P chở S đi từ nhà về hướng thị trấn Lấp V, khi đến nhà của ông Lê Văn M thuộc ấp An L, xã Định A thì thấy có nhiều cây bông trang và mai trước sân nhà nên P dừng lại để trộm cắp tài sản. P trèo rào vào sân nhổ 03 cây bông trang, một cây cao khoảng 130cm, hoành gốc 08cm, đường kính tán khoảng 60cm, một cây cao khoảng 160cm, hoành gốc 10cm, đường kính tán khoảng 65cm và một cây cao khoảng 140cm, hoành gốc khoảng 07cm, đường kính tán khoảng 55cm rồi trèo hàng rào đi ra ngoài. Theo lời khai của P, sau khi trộm được 03 cây bông trang, P điều khiển xe chở S đến nhà của Nguyễn Hoàng T để đổi lấy ma túy về sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 31/8/2021, P và S đến nhà T, S đợi ở phía trước, P gặp trực tiếp T và nói cây do nhà trồng nên đem xuống bán và đổi lấy ma túy chứ không lấy tiền. Theo lời khai của anh T, P và S đến bán bông trang cho T nói là cây nhà trồng mang đem bán. Tại thời điểm mua bán cây, địa P đang áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg về các biện pháp phòng chống dịch Covid 19 nên P đi bán vào ban đêm để lẩn tránh các chốt kiểm dịch thì T tin tưởng nên đồng ý mua hai cây bông trang, T không biết được cây này là do P và S trộm cắp mà có. Còn cây bông trang còn lại, chưa thu hồi được T không biết ở đâu, P cũng không biết cây mai còn lại ở đâu nên hiện chưa thu hồi được.

Ngày 07/9/2021, Bùi Văn S đến Công an xã Định A đầu thú về hành của mình.

Ngày 08/9/2021, Nguyễn Hoàng T bị Công an xã Định A mời làm việc và tự nguyện giao nộp 01 cây mai và 02 cây bông trang.

Cùng ngày 08/9/2021, Công an xã Định A mời Võ Văn Hoài P đến làm việc và tạm giữ chiếc xe đạp của P.

Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2021 xác định giá trị của các tài sản: 01 cây mai bonsai, bông vàng, hoành gốc 42cm, cao 77cm, đường kính tán 75cm của ông Bùi Văn L1 có giá trị 1.900.000 đồng; 01 cây mai bonsai, bông vàng, hoành gốc 26cm, cao 100cm, đường kính tán 70cm của Nguyễn Thị H1 có giá trị 900.000 đồng và 01 cây bông trang, cao 130cm, hoành gốc 8cm, đường kính tán 60cm có giá trị là 450.000 đồng; 01 cây bông trang cao 160cm, hoành gốc 10cm, đường kính tán 65cm có giá trị là 450.000 đồng, còn 01 cây bông trang Hội đồng định giá không định giá do chưa thu hồi, không có cơ sở khảo sát.

Quá trình điều tra, ông Bùi Văn L1 đã nhận lại cây mai, ông Lê Văn M đã nhận lại 02 cây bông trang, bà Nguyễn Thị H1 đã nhận lại cây mai và không yêu cầu bị cáo S bồi thường thiệt hại. Đối với cây bông trang chưa thu hồi được, P và bị cáo S không biết hiện đang ở đâu. Theo lời khai của ông M cây bông trang chưa thu hồi được có giá trị khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và bị cáo S thống nhất giá trị cây bông trang chưa thu hồi được có giá trị là 500.000 đồng.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo S và các bị hại L1, H1, M đều không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên. Đồng thời, tại phiên tòa bị cáo S cũng không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Đối với hành vi của Võ Văn Hoài P đã bị Toà án nhân dân huyện Lấp V xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HS-ST ngày 28/7/2022.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt truy nã là ngày 26/10/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, bị cáo Bùi Văn S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Bùi Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo thừa nhận Bản án số 08/2023/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là quá nặng so với hành vi của bị cáo và tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng hành vi của bị cáo Bùi Văn S bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn S, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo Bùi Văn S không tham gia tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo Bùi Văn S xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Vào khoảng thời gian từ 23 giờ đến 01 giờ, các ngày 21, 26 và 30/8/2021 bị cáo Bùi Văn S và Võ Văn Hoài P lợi dụng đêm khuya vắng người lén lút lấy trộm 01 cây mai của ông Bùi Văn L1 trị giá 1.900.000 đồng; 01 cây mai của bà Nguyễn Thị H1 trị giá 900.000 đồng và 03 cây bông trang của ông Lê Văn M trị giá 1.400.000 đồng cùng ngụ xã Định A, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp, với tổng giá trị tài sản là 4.200.000 đồng để nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo Bùi Văn S bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, từ đó phán quyết mức án 06 (Sáu) tháng tù đối với bị cáo là phù hợp.

[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với kháng cáo của các bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn S.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn S.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt truy nã là ngày 26/10/2022.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ