vanban.org

Bản án 101/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim A về việc “Ly hôn” với bị đơn ông Trần Thanh Ph như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Thanh Ph. Về việc nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Quốc Ph1, sinh ngày 23/01/2000 và Trần Thanh Nh, sinh ngày 24/3/2003. Cháu Trần Thanh Nh đã chết năm 2021; cháu Trần Quốc Ph1 đã thành niên nên không yêu cầu Toà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ - Bà Phạm Thị Kim A và ông Trần Thanh Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim A về việc “Ly hôn” với bị đơn ông Trần Thanh Ph như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-9-2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Văn Tâm;

2. Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 260/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim A, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: tổ 4, khu phố N, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh Ph, sinh năm 1973; địa chỉ thường trú: tổ 4, khu phố N, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Kim A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim A và ông Trần Thanh Ph tìm hiểu nhau được một thời gian thì cả hai tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới theo Ph tục, tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68, Quyển số 01 ngày 02/11/1999. Sau khi tổ chức lễ cưới, vợ chồng sinh sống tại tổ 4, khu phố N, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Đời sống chung hạnh phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Tuy nhiên, sau khi sinh người con thứ 2 là Trần Thanh Nh thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là khoảng tháng 03/2021. Nguyên nhân là do cả hai không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng và tin tưởng nhau; ông Ph sống thiếu trách nhiệm với vợ con, luôn chửi bới vợ con; thậm chí còn xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà A một cách vô cớ. Hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tính cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Tuy hiện tại vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm, chăm sóc nhau. Vợ chồng ly thân 03 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông Ph.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Quốc Ph1, sinh ngày 23/01/2000 và Trần Thanh Nh, sinh ngày 24/3/2003. Cháu Nh đã chết năm 2021 do bị bệnh; còn cháu Ph1 đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Thanh Ph đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Ph không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Ph vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, được cung cấp thông tin như sau: Ông Trần Thanh Ph, sinh năm 1973 đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tổ 4, khu phố N, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cho đến nay địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng bà Phạm Thị Kim A và ông Trần Thanh Ph nên địa phương không rõ vợ chồng bà A và ông Ph có mâu thuẫn như thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Thanh Ph; về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Trần Quốc Ph1, sinh ngày 23/01/2000 và Trần Thanh Nh, sinh ngày 24/3/2003. Cháu Nh đã chết năm 2021 do bị bệnh; còn cháu Ph1 đã thành niên các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét; về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Phạm Thị Kim A có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh Ph. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh và quá trình giải quyết vụ án xác định, ông Trần Thanh Ph, sinh năm 1973 đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tổ 4, khu phố Hoá Nhựt, phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Trần Thanh Ph được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim A và ông Trần Thanh Ph chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68, Quyển số 01 ngày 02/11/1999. Theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Phạm Thị Kim A xác định đời sống hôn nhân giữa bà và chồng là ông Trần Thanh Ph không còn hạnh phúc. Từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng nhau, ông Ph sống thiếu trách nhiệm với vợ con, thậm chí còn xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà A một cách vô cớ. Vợ chồng đã ly thân 03 năm nay. Cả hai đã đưa ra nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả nên bà A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Ph.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Ph vẫn không đến Tòa án, cho thấy ông Ph không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Về phía bà A, trong quá trình tố tụng xác định hoàn toàn không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với ông Ph. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân của bà A và ông Ph đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà A và ông Ph đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Anh có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Ph là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Quốc Ph1, sinh ngày 23/01/2000 và Trần Thanh Nh, sinh ngày 24/3/2003. Cháu Nh đã chết năm 2021 do bị bệnh; còn cháu Ph1 đã thành niên; các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim A về việc “Ly hôn” với bị đơn ông Trần Thanh Ph như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Thanh Ph.

- Về việc nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Quốc Ph1, sinh ngày 23/01/2000 và Trần Thanh Nh, sinh ngày 24/3/2003. Cháu Trần Thanh Nh đã chết năm 2021; cháu Trần Quốc Ph1 đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007813 ngày 29/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ