vanban.org

Bản án 101/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Văn N.

Về con chung: Chị H và anh N có hai con chung là cháu Lê Ngọc K, sinh ngày 24/4/2010 và cháu Lê Hồng Q, sinh ngày 22/7/2012. Ly hôn giao cháu K và cháu Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Hồng - Lê Văn Ngọc"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/9/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH [

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Tiếp;

Ông Nguyễn Duy Tuyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1984.

- Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm 1980.

Cùng nơi thường trú: Số nhà 36A/1/1 N, phường Ngọc T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn N kết hôn với nhau năm 2009, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc T, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, ngoài ra anh N còn ham chơi, nợ nần làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, không quan tâm đến vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mặc dù chị đã khuyên giải rất nhiều lần nhưng anh N vẫn không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mâu thuẫn của vợ chồng chị căng thẳng nhất từ năm 2015, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Lê Ngọc K, sinh ngày 24/4/2010 và cháu Lê Hồng Q, sinh ngày 22/7/2012. Ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Kể từ khi anh chị sống ly thân cho đến nay, cháu K và cháu Q vẫn do chị chăm sóc và nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Hiện nay chị là cán bộ tại Kho bạc Nhà nước thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, có thu nhập và chỗ ở ổn định cùng với bố mẹ đẻ.

Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập, quyết định tố tụng cho anh Lê Văn N nhưng anh N không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị đơn đã được Tòa án tống đạt và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thanh Hóa, việc Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bị đơn là anh Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh N.

Về hôn nhân: Chị H và anh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra anh N còn ham chơi, nợ nần làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Mâu thuẫn của anh chị căng thẳng nhất từ năm 2015, chị H và anh N đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N đã không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp chứng tỏ anh cũng không tha thiết hòa giải để đoàn tụ gia đình. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh N không còn, tại phiên tòa chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: quá trình chị H và anh N sinh sống tại địa phương vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn của chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Hồng, cho chị được ly hôn anh N là có căn cứ.

. Về con chung: Chị H và anh N có hai con chung là cháu Lê Ngọc K, sinh ngày 24/4/2010 và cháu Lê Hồng Q, sinh ngày 22/7/2012. Ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung với chị. Kể từ khi chị H và anh N sống ly thân nhau cho đến nay cháu K và cháu Q sống cùng với mẹ, chị H vẫn nuôi dạy, chăm sóc các cháu bảo đảm tốt về mọi mặt. Hiện nay chị H có thu nhập và chỗ ở ổn định. Cháu K và cháu Q đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Tòa án đã triệu tập anh N để lấy lời khai về việc tranh chấp nuôi con cũng như triệu tập anh N đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, phiên tòa tuy nhiên anh N không có mặt để làm việc, cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi cho Tòa án. Vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, cháu Q và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung của chị H có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Văn N.

- Về con chung: Chị H và anh N có hai con chung là cháu Lê Ngọc K, sinh ngày 24/4/2010 và cháu Lê Hồng Q, sinh ngày 22/7/2012. Ly hôn giao cháu K và cháu Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản, công nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số AA/2021/0003059 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa (chị Hồng đã nộp đủ án phí).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ ./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ