- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Dương Th H yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Đức T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Dương Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và bà Lê Thái Thị Kim Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 482/2023/TLVA-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm: 1993 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị H trình bày:
Bà H và ông T có tổ chức lễ cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 09/12/2021, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi kết hôn bà H vẫn ở nhà cha mẹ ruột của bà H vì 02 vợ chồng không có nhà riêng, trong khi gia đình chồng vẫn ở nhà thuê nên vợ chồng bà không thể sống chung. Đến năm 2023 bà và ông T quyết định ra thuê nhà ở với nhau, khi ra ở riêng được nữa tháng thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông T đã đánh bà trong lúc say và hành hung đuổi bà và con đi trong đêm. Bà cảm thấy rất hoảng loạn, nhưng không phải một lần mà đã rất nhiều lần trước đó ông T đã đánh và đuổi bà ra khỏi nhà.
Nay, tình cảm của bà với ông T không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Đức T.
Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 03/10/2021; Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà H hiện nay làm công nhân, mức thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Dương Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Đức T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở khu phố B, phường Đ, TP . - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Dương Thị H và ông Nguyễn Đức T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 74/2021 ngày 09/12/2021, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, sau khi kết hôn đời sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hoà hợp, không có tiếng nói chung. Ông T đã nhiều lần đánh bà H trong lúc say và hành hung đuổi bà và con đi trong đêm. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 18/8/2023 Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận ông T và bà H không sống chung với nhau trên địa bàn phường. Ông T biết việc bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông T không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
[2.3] Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 03/10/2021. Xét yêu cầu nuôi con của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Cháu Đ hiện đang ở bà H, bà H đủ điều kiện để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao con cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật. Bà H không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Dương Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.
2. Về con chung: Giao cho bà Dương Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 03/10/2021. Ông Nguyễn Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Dương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) Bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005580 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Dương Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - UBND xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn (GCNKH số 74 ngày 09/12/2021); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |