- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Chí N- Hồ Thị G"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chí N đối với bị đơn chị Hồ Thị G, cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-7-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đồng
Ông Huỳnh Đức Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Chí N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh V.
- Bị đơn: Chị Hồ Thị G, sinh năm 1987.
Địa chỉ: ấp 2B, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre
(anh N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; chị G vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn anh Nguyễn Chí N trình bày:
Anh N và chị Hồ Thị G kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/10/2017; hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10/2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn phát sinh hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Nay anh N xác định không còn tình cảm với chị G nữa, anh yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: anh N yêu cầu được ly hôn với chị Hồ Thị G, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
- Về con chung: anh N và chị Hồ Thị G có 1 con chung: Nguyễn Hồ Bảo A, sinh ngày 08/8/2017. Anh N yêu cầu để chị G trực tiếp nuôi con chung, anh N không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: anh N khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: anh N khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên anh N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần triệu tập hợp lệ chị Hồ Thị G đến để tiến hành hòa giải nhưng chị G vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay,
Nguyên đơn anh Nguyễn Chí N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu.
Bị đơn chị Hồ Thị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chị Hồ Thị G đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Chí N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Anh Nguyễn Chí N khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Hồ Thị G và yêu cầu để chị G trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Bị đơn chị Hồ Thị G có địa chỉ cư trú tại ấp 2B, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
- Anh Nguyễn Chí N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.
- Bị đơn chị Hồ Thị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị G.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Chí N và chị Hồ Thị G tự nguyện kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/10/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, anh N cho rằng anh và chị G bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn phát sinh hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Anh N đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành; nay anh xác định không còn tình cảm với chị G nữa nên xin được ly hôn. Về phía chị G, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ chị G tham gia phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị G đã không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh N. Qua đó, cho thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn; chị G có thái độ bỏ mặc, không hề có ý mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh N.
Từ những phân tích trên xét thấy, mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Chí N và chị Hồ Thị G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì cả hai bên đều không ai mong muốn đoàn tụ, mục đích hôn nhân vì thế không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.
Về con chung: anh Nguyễn Chí N và chị Hồ Thị G có 1 con chung: Nguyễn Hồ Bảo A, sinh ngày 08/8/2017. Anh N yêu cầu sau khi ly hôn để chị G trực tiếp nuôi con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Nhận thấy, cháu Nguyễn Hồ Bảo A còn nhỏ, hiện đang sống với mẹ và có cuộc sống, học tập, sinh hoạt ổn định. Anh N đồng ý để chị G tiếp tục nuôi con và phía chị G cũng không có ý kiến gì về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, xét thấy hiện tại trong vụ án này chị G không có yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị G có quyền yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn bằng một vụ kiện khác.
Về tài sản chung: anh Nguyễn Chí N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: anh Nguyễn Chí N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, anh Nguyễn Chí N phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chí N đối với bị đơn chị Hồ Thị G, cụ thể tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Chí N được ly hôn với chị Hồ Thị G.
- Về con chung: giao cháu Nguyễn Hồ Bảo A, sinh ngày 08/8/2017 cho chị Hồ Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con, xét thấy hiện tại trong vụ án này chị G không có yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị G có quyền yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn bằng 1 vụ kiện khác.
Sau khi ly hôn, anh N được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích về mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên đương sự được quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: anh Nguyễn Chí N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: anh Nguyễn Chí N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh Nguyễn Chí N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003195 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Anh N đã nộp xong tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - Các đương sự; - UBND xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Ngoan |