- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Trúc L-Tôn Hoài Nam"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Trúc L và anh Tôn Hoài N được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-12-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
2. Ông Võ Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Giàu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2023/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Trúc L, sinh năm 1995 (có mặt)
Trú tại: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang
- Bị đơn: Anh Tôn Hoài N, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Lê Trúc L trình bày: Chị L và anh N tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không có sự đồng cảm, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nên chị L yêu cầu ly hôn với anh N
Về con chung: Quá trình chung sống chị L và anh N có một con chung tên Tôn Như Ý, sinh ngày 08/02/2013, cháu Ý đang sống với anh N, chị L để con chung cho anh N nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Tôn Hoài N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn anh Tôn Hoài N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Trúc L và anh Tôn Hoài N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 2015, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị L, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì với cuộc hôn nhân của anh, điều đó chứng tỏ anh N đã bỏ mặc, không có động thái hàn gắn cuộc hôn nhân của anh. Do chị L, anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị L yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Chị L và anh N có một con chung sinh năm 2013, cháu Tôn Như Ý có nguyên vọng sống với cha. Để tôn trọng nguyện vọng của con chung Nên Hội đồng xét xử giao con chung cho anh N nuôi dưỡng. Anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên chị L chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Trúc L phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Trúc L và anh Tôn Hoài N được ly hôn.
Về con chung: Giao cháu Tôn Như Ý, sinh ngày 08/02/2013 cho anh Tôn Hoài N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Ý tròn 18 tuổi. Chị L chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Trúc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số PT 2024 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị L đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngô Huỳnh |