vanban.org

Bản án 101/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Sỹ H đối với bị đơn ông Trần Đức Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”:

Buộc ông Trần Đức Tr thanh toán cho ông Ngô Sỹ H số tiền là 231.452.054 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi bốn đồng), gồm nợ gốc là 220.000.000 đồng và tiền lãi là 11.452.054 đồng. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Sỹ H đối với bị đơn ông Trần Đức Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”:
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/DS-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Quang Xẹt;

2/ Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 140/2023/TLST-DS ngày 30/5/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST–DS ngày 25 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2023/QĐST–DS ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ngô Sỹ H, sinh năm: 1980; địa chỉ: Tổ 5, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Thị Y, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ 1, khu phố 4, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ngày 09/5/2023). Có mặt

Bị đơn: Ông Trần Đức Tr, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 7, khu phố 4, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Do chỗ quen biết nên ngày 18/01/2023 ông Ngô Sỹ H có cho ông Trần Đức Tr vay số tiền 220.000.000 đồng, thỏa thuận không lãi suất, thời hạn vay từ ngày 18/01/2023 đến ngày 18/3/2023. Hai bên có lập “Giấy vay tiền” cùng ngày, ông Tr có ký tên, lăn tay. Tuy nhiên đến ngày 18/3/2023, ông Tr không thanh toán số tiền vay cho ông H. Sau đó nhiều lần ông H nhiều lần yêu cầu ông Tr trả nợ nhưng ông Tr tránh mặt, không trả nợ nên ông H khởi kiện yêu cầu ông Tr phải có thanh toán tiền gốc 220.000.000 đồng và lãi tính từ ngày 19/3/2023 đến ngày 29/9/2023 số tiền 11.452.054 đồng (lãi suất 10%/năm).

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đức Tr được tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia tố tụng nhưng ông Tr không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 09/8/2023, Tòa án ban hành Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết tại “Giấy vay tiền”. Tại Kết luận giám định số 325/KL-KTHS(ĐV) ngày 13/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Chữ ký và chữ viết mang tên “Trần Đức Tr” trên “Giấy vay tiền” đề ngày 18/01/2023 so với chữ ký, chữ viết của Trần Đức Tr trên các tài liệu mẫu do cùng một người ký và viết ra.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng.

Về nội dung: Theo kết luận giám định xác định chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền là của bị đơn, do đó xác định bị đơn có nợ nguyên đơn tiền gốc 220.000.000 đồng, nguyên đơn tính lãi từ ngày 19/3/2023 với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Như vậy nguyên đơn khởi kiện có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn cho bị đơn vay tiền, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền gốc, tiền lãi do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn được triệu tập tham gia phiên tòa đến lấn thứ hai vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về ký kết, thực hiện hợp đồng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc số tiền 220.000.000 đồng, tiền lãi số tiền 11.452.054 đồng. Bị đơn vắng mặt và không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là “Giấy vay tiền” ngày 18/01/2023. Nội dung “Giấy vay tiền” thể hiện: “Hôm nay ngày 18/01/2023 tôi Trần Đức Tr sn 10/10/1982 – SCM 182551659 đ/c Tổ 7 khu phố 4, phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tôi có vay của anh Ngô Sỹ H số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Khoản tiền này tôi vay 02 tháng tính từ ngày 18/01/2023 đến 18/03/2023 tôi hoàn trả lại cho anh Ngô Sỹ H”, có chữ ký, chữ viết Trần Đức Tr. Tòa án trưng cầu để xác định chữ ký, chữ viết Trần Đức Tr, qua Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có đủ cơ sở xác định chữ ký, chữ viết Trần Đức Tr là do ông Trần Đức Tr ký và viết ra. Như vậy có cơ sở xác định ông Trần Đức Tr có vay của ông Ngô Sỹ H số tiền 220.000.000 đồng. Xét thấy hình thức, nội dung hợp đồng vay tài sản là phù hợp các Điều 119, Điều 398 của Bộ luật Dân sự, không vi phạm đạo đức xã hội, các bên tự nguyện ký kết hợp đồng do đó Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết, các bên tham gia trong giao dịch này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Nguyên đơn cho rằng bị đơn chưa trả nợ, bị đơn không cung cấp được chứng cứ đã thanh toán tiền cho nguyên đơn. Do vậy bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn theo Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

Về lãi chậm trả: Theo nội dung “Giấy vay tiền” đề ngày 18/01/2023, thỏa thuận thời hạn thanh toán là hết ngày 18/3/2023, các bên không có thỏa thuận về lãi suất vay, không thỏa thuận lãi suất chậm trả. Theo quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật Dân sự, do các bên không thỏa thuận lãi chậm trả nên lãi chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 10%/năm. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi chậm trả từ ngày 19/3/2023, với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí giám định, án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 159, Điều 161, Điều 227, Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 119, Điều 357, Điều 398, Điều 463, Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Sỹ H đối với bị đơn ông Trần Đức Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”:

Buộc ông Trần Đức Tr thanh toán cho ông Ngô Sỹ H số tiền là 231.452.054 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi bốn đồng), gồm nợ gốc là 220.000.000 đồng và tiền lãi là 11.452.054 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về chi phí giám định:

Bị đơn ông Trần Đức Tr phải chịu chi phí giám định 3.000.000 đồng, nguyên đơn ông Ngô Sỹ H đã tạm ứng chi phí giám định, do đó ông Trần Đức Tr phải thanh toán lại cho ông Ngô Sỹ H 3.000.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Trả lại cho ông Ngô Sỹ H tạm ứng án phí số tiền 5.576.000 đồng theo Biên lai số 0007709 ngày 26/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.

- Ông Trần Đức Tr phải nộp 11.572.600 đồng (Mười một triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm đồng).

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ