vanban.org

Bản án 101/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Hữu B 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/8/2022. Giao Nguyễn Hữu B cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HSST thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 10/8/2022 của TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/HS-ST
Ngày: 24-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh

2. Ông Bùi Quốc Kiên

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Cao Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu B - sinh ngày: 10/4/1992 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn M, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D - sinh năm: 1970; con bà Đỗ Thị T - sinh năm: 1970; vợ: Lê Thị P - sinh năm: 1993; có 02 con; con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/5/2022 đến nay (có mặt)

- Bị hại: Nhà máy bao bì Đ

Địa chỉ: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Chị Lê Thị H - sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; chức vụ: Trưởng phòng Hành chính nhân sự của Nhà máy bao bì Đ (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Vũ Thị H1 - sinh năm: 1981

Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Hữu D - sinh năm: 1970

Nơi cư trú: Thôn M, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu B là công nhân của Nhà máy bao bì Đ, có địa chỉ tại thôn N, xã T, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 24/3/2022, Bằng điều khiển xe mô tô BKS 36C1-148.xy mang theo 01 chiếc cưa sắt và 01 bao xác rắn từ nhà mình đi đến nhà máy bao bì Đ để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi gần đến nơi, B để xe mô tô ở lùm cây gần đó rồi trèo qua bờ tường phía Bắc vào trong khuôn viên nhà máy, đi đến cửa sổ phía Tây nhà bảo trì. Do cửa khóa nên B dùng cưa sắt cậy cửa sổ và đột nhập vào bên trong, thấy có 03 gian nhà kho đều bị khóa nên B nhặt một thanh sắt để cậy khóa cửa gian nhà kho bên tay phải rồi đi vào bên trong trộm cắp một cuộn dây cáp điện mang ra phòng bảo trì cắt ra thành nhiều đoạn và cho vào bì xác rắn mang theo trước đó. Sau đó, B tiếp tục trèo qua tường ngăn đột nhập vào nhà kho bên tay trái lấy trộm một ống đồng rồi mở cửa từ bên trong đi ra phòng bảo trì. Sau khi trộm cắp được các tài sản, B mở cửa bên trong, đem tài sản trộm cắp ra ngoài theo đường vào trước đó. Khi ra khỏi bờ tường, B ném thanh sắt và chiếc cưa xuống mương nước rồi dùng xe mô tô chở số tài sản trộm cắp được đến cửa hàng thu mua phế liệu của gia đình anh Lê Hữu S ở tổ dân phố H, phường M, thị xã N để bán. Tuy nhiên, do đêm khuya, cơ sở kinh doanh này đóng cửa nên B đem cất giấu số tài sản trên ở gần cửa hàng rồi đi đến chân cầu Hổ đợi. Đến khoảng 07 giờ 00 phút sáng ngày 25/3/2022, B quay lại lấy tài sản và đem bán cho chị Vũ Thị H1 (là vợ của anh S) được số tiền 8.060.000 đồng rồi quay lại nhà máy bao bì Đ làm việc bình thường.

Qúa trình điều tra xác định, tài sản Nguyễn Hữu B trộm cắp được của nhà máy bao bì Đ gồm: 10 m dây cáp điện lõi đồng, loại 1x300, có tổng trọng lượng lõi đồng bằng 26,85 kg; 01 ống đồng đường kính 70 mm có trọng lượng đồng là 39 kg.

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KLĐGTS ngày 04/4/2022 và Kết luận đình giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân thị xã N kết luận: 10 m dây cáp điện lõi đồng và 01 ống đồng có giá trị lần lượt là 4.833.000 đồng và 11.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Hữu B trộm cắp được là 16.533.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKSNS ngày 08/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Không xem xét phần bồi thường dân sự và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận lại quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, nên ngày 24/3/2022, Nguyễn Hữu B đã lén lút đột nhập vào khu vực kho nhà máy bao bì Đ, ở thôn N, xã T, thị xã , tỉnh Thanh Hoá trộm cắp 10 m dây cáp điện trị giá 4.833.000 đồng và 01 ống đồng trị giá 11.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản B trộm cắp là 16.533.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Đối với Vũ Thị H1 là người đã mua của Nguyễn Hữu B 10 m dây cáp điện lõi đồng, loại 1x300, tổng trọng lượng lõi đồng bằng 26,85 kg và 01 ống đồng đường kính 70 mm, trọng lượng đồng là 39 kg. Quá trình mua bán, Vũ Thị H1 không biết số đồng trên là tài sản do B trộm cắp mà có. Do đó hành vi của Vũ Thị H1 không cấu thành tội phạm.

Xét tính chất vụ án: Hiện nay trên địa bàn thị xã Nghi Sơn nói chung, tình trạng trộm cắp tài sản đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang, lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét về xử lý vật chứng:

- Đối với 30 kg lõi cáp đồng đã được cắt ra thành từng đoạn, có đặc điểm, kích thước khác nhau; 6,5 kg các đoạn dây cáp màu đen, có lõi đồng bên trong; 6,2 m dây cáp có vỏ màu đen, bên trong là lõi dây đồng, có mã số: 3204 và 3142, tổng trọng lượng 27 kg thu giữ tại nhà chị Vũ Thị H1, xét thấy không phải là vật chứng vụ án, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chị Vũ Thị H1 là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS 36C1-148.xy, số khung: C6K0DY0900ab; số máy: 5C6K-0900cd và các giấy tờ liên quan là vật chứng vụ án. Qúa trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Hữu D (bố đẻ của B), ông D cho B mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, ông D không biết B sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại chiếc xe trên cho ông D là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với 01 quần dài bằng vải màu xám; 01 áo phao màu ghi xám; 01 đôi giày màu trắng, nhãn hiệu Adidas; xét thấy không phải là vật chứng vụ án, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ra quyết định đã trả lại cho Nguyễn Hữu B là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

Xét về bồi thường dân sự: Ngày 15/7/2022, Nguyễn Hữu B đã thỏa thuận bồi thường cho đại diện theo ủy quyền của bị hại là chị Lê Thị H số tiền 16.533.000 đồng, chị H đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Nguyễn Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Hữu B 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/8/2022.

Giao Nguyễn Hữu B cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí: Nguyễn Hữu B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ