- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Bá Tài, Nguyễn Văn L, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2022/HS-ST Ngày: 13-9-2022 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Xuân
2. Bà Trần Thị Yến Nhi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Phạm Bá T (tên gọi khác: Bi), sinh năm 1989 tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 5, xã T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Số 25, đường 18, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá Tr, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1968; bị cáo là con thứ hai; vợ Trần Thị Thúy H, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án: Ngày 08/01/2016, tại Bản án số 01/2016/HSST bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng 15 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1984, tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: 77/2 khu phố 2, đường số 4, tổ 11, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12, con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H, sinh năm 1963,có 02 Ah chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ Nguyễn Thị Trúc, sinh năm 1985, có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân Th: + Ngày 12/7/2005, tại Bản án số 994/2005/HSST bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Đã được xóa án tích.
+ Ngày 18/12/2008, tại Bản án số 357/2008/HSST bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Trương Trần Thu A, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: K 5, thị trấn H, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2. Lê Mai Vĩnh H, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã Phú H1, huyện Q, tỉnh Đồng Nai.
3.Lê Thị H1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã Phú H1, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
4.Hồ Đức L, sinh năm 19759 (vắng mặt)
Địa chỉ: K 9, thị trấn T, huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai.
5. Châu Ph, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: K 9, thị trấn T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
6. Trương Văn Thìn, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: K 9, thị trấn T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
7. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: K 9, thị trấn T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
8. Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1987(vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
9. Huỳnh Phúc V, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Bá Tvà Nguyễn Văn L là bạn bè quen biết với nhau, Tài rủ L đi bắt trộm mèo của người dân trên địa bàn huyện Tân Phú bán lấy tiền tiêu xài thì được L đồng ý. Thực hiện ý định, Tài lên mạng xã hội đặt mua 100 viên thuốc để đánh bả mèo. Hình thức trộm cắp của Tài và L là Tài sẽ điều khiển xe mô tô đi rải thuốc để đánh bả mèo trên dọc tuyến đường Trà Cổ, sau khi rải thuốc xong Tài và L sẽ chờ một thời giA để mèo có ăn trúng bả thì sex bị ngất xỉu rồi đi nhặt xác những con mèo đã ăn trúng bả. Trong thời giA từ ngày 18/4/2022 đến ngày 23/4/2022, Tài và L đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp như sau. Ngày 18/4/2022, Tài và L đã rải thuốc và bắt được 06 con mèo. Sau khi bắt được, Tài bán được 650.000 đồng, Tài cho L số tiền 200.000 đồng. Ngày 20/4/2022, Tài và L đã rải thuốc và bắt được 10 con mèo, Tài bán được 1.450.000 đồng, Tài cho L số tiền 400.000 đồng. Ngày 23/4/2022, Tài và L đã rải thuốc và bắt được 11 con mèo, sau khi trộm cắp xong Tài và L đAg trên đường tìm địa điểm tiêu thụ thì bị Công A xã Phú Ngọc, huyện Định Quán phát hiện, lập biên bản sự việc và chuyển giao người, tAg vật cho Công A huyện Tân Phú để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra đã làm rõ được 11 con mèo mà Tài và L trộm cắp vào ngày 23/4/2022 thuộc sở hữu của 09 người dân gồm bà Trương Trần Thu A 01 con mèo nặng 4,4 kg, bà Lê Mai Vĩnh H 01 con mèo nặng 3,4 kg, bà Lê Thị H1 01 con mèo nặng 3,3 kg, ông Hồ Đức L 01 con mèo nặng 4,1 kg, ông Châu Ph 01 con mèo nặng 2,9 kg và 01 con mèo nặng 2,5 kg, ông Trương Văn Thìn 01 con mèo nặng 2 kg, ông Nguyễn Văn Th 01 con mèo nặng 3,2 kg, bà Nguyễn Thị Minh T 01 con mèo nặng 2,6 kg, ông Huỳnh Phúc V 01 con mèo nặng 2,2 kg và 01 con mèo nặng 2,7 kg.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú đã xác định: “11 con mèo, loại mèo ta có trọng lượng 33,3 kg, đã chết. Kết luận về giá trị thiệt hại 2.264.000 đồng”.
Vật chứng của vụ án:
- 01 giỏ nhựa màu vàng, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú.
- 11 con mèo là vật chứng của vụ án nhưng đã chết nên cơ quA điều tra tiến hành tiêu hủy theo quy định.
- 01 xe mô tô biển số 62X1-6232 và 01 xe mô tô biển số 93K1-062.17 là phương tiện mà Phạm Bá Tvà Nguyễn Văn L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa xác minh được chủ sở hữu, tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: 09 bị hại đều không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Những vấn đề khác: Đối với 02 lần trộm cắp do Phạm Bá Tvà Nguyễn Văn L thực hiện vào các ngày 18/4/2022 và 20/4/2022, do không thu được vật chứng, không có căn cứ để định giá tài sản nên không xem xét xử lý.
Bản Cáo trạng số 110/CT-VKSTP- ĐN ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo Phạm Bá Tài, Nguyễn Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân Th của các bị cáo giữ nguyên quA điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Bá Tđề nghị xử phạt bị cáo Tài mức hình phạt từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tháng tù.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn L và đề nghị xử phạt bị cáo L mức hình phạt từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46, 47; Điều 106 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy 01 giỏ nhựa màu vàng cao 43cm, rộng 48cm, dài 77cm là công cụ và phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng .
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu L bất chính có được từ việc bán mèo cụ thể: Tài số tiền 1.500.000đồng; L số tiền 600.000đồng.
Đối với 11 con mèo là vật chứng vụ án nhưng đã chết, Cơ quA cảnh sát điều tra đã tiêu hủy là phù hợp.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo thống nhất với tội dAh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Các bị cáo nói lời sau cùng như sau: Các bị cáo biết hành vi của mình là hành vi trái pháp luật, con của các bị cáo còn nhỏ, bị cáo L đAg điều trị bệnh xương khớp nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về hoà nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội dAh:
Từ lời khai nhận tội của các bị cáo, ý kiến của bị hại, Hội đồng xét xử xác định được diễn biến hành vi của các bị cáo thực hiện như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân Tài lên mạng xã hội đặt mua 100 viên thuốc để đánh bả cho mèo ăn. Tài điều khiển xe mô tô dọc tuyến đường Trà Cổ rải thuốc để đánh bả mèo, sau khi rải thuốc xong Tài và L chờ một thời giA rồi đi nhặt xác những con mèo đã ăn trúng bả. Ngày 23/4/2022 Tài đã rải thuốc và cùng L bắt được 11 con mèo, sau khi thu gom mèo xong Tài và L đAg trên đường tìm địa điểm tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ. Tại kết luận định giá tài sản xác định 11 con mèo có trọng lượng 33,3 kg, đã chết. Kết luận về giá trị thiệt hại 2.264.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Tài, L trên đây là phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định, Phạm Bá Tài, Nguyễn Văn L thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá 2.264.000đ, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội dAh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 110/CT-VKSTP-ĐN ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố các bị cáo về tội dAh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, không oA sai cho các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị A, A toàn xã hội tại địa phương. Việc đưa các bị cáo ra xét xử hôm nay là cần thiết. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời giA nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo có thái độ chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Bá Tđã có 01 tiền án (Ngày 08/01/2016, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước; xử phạt bị cáo Tài 10 tháng 15 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hiện Tài chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân Th: Bị cáo Nguyễn Văn L có nhân Th xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo nhằm giảm nhẹ một phần hình phạt.
Về căn cứ quyết định hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn bị cáo L là người thực hành, bi cáoTài là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ và thực hành nên mức hình phạt cao hơn bị cáo L.
Các biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền bị cáo Tài và L có được từ việc bán tài sản trộm cắp thực hiện vào các ngày 18/4/2022 và 20/4/2022 tổng cộng 2.100.000 đồng; Cụ thể: Bị cáo Tài số tiền 1.5000.000đ, bị cáo L số tiền 600.000 đồng. Do đây là số tiền các bị cáo thu L bất chính từ việc phạm tội. Vì vậy buộc các bị cáo phải giao nộp số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.
Đối với xe mô tô biển số 62X1-6232 và xe mô tô biển số 93K1-062.17 là phương tiện mà Phạm Bá Tvà Nguyễn Văn L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, chưa xác minh được chủ sở hữu, giao cơ quA điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ nhựa màu vàng cao 43cm, rộng 48cm, dài 77cm là công cụ và phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với quA điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân Th là phù hợp với quA điểm của Hội đồng xét xử nhưng đề xuất hình phạt có phần nghiêm khắc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Bá Tài.
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự với bị cáo Nguyễn Văn L.
- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Bá Tài, Nguyễn Văn L, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Bá T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2022.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2022.
2.Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46,47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ nhựa màu vàng cao 43cm, rộng 48cm, dài 77cm là công cụ và phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2022 giữa cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Tân Phú và chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
Buộc bị cáo Phạm Bá T giao nộp số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Bị cáo Nguyễn Văn L giao nộp số tiền 600.000 đồng( sáu trăm ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
3.Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Bá T, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Bá T, Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công A huyện Tân Phú; - CQ THA hình sự Công A huyện Tân Phú; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thịnh |