- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Duy Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Duy Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2022/HS-ST Ngày 26 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Túy
Bà Phạm Thị Thúy Mùi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Khá nh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 12/02/1990 tại xã B, huyện Qu, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Qu, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy K(đã chết) và bà Vũ Thị Ng, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiề n á n, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 3164/QĐ-UBND ngày 29/8/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, về việc áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội, thời hạn 12 tháng (cai nghiện), chấp hành xong ngày 30/8/2012; bản án số 121/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 07/11/2015; bị tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 26/6/2022 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyệ n Quỳ nh Phụ , tỉnh Thái Bình (có mặt).
Người chứng kiến:
1. Ông Nguyễn Huy U, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Th, xã M, huyện Qu, tỉnh Thái Bình (vắ ng mặ t)
2. Ông Phạm Hữu T, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn Ch, xã M, huyện Qu, tỉnh Thái Bình (vắ ng mặ t)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 23/6/2022, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ phối hợp cùng Công an xã M làm nhiệm vụ tại đường thôn Ch, xã M, huyện Qu phát hiện Nguyễn Duy Kh có biểu hiện liên quan đến tội phạm ma túy nên đã yêu cầu đứng lại. Lúc này, Kh thả 02 gói nhỏ, ngoài là giấy tráng kim trắng từ trong lòng bàn tay phải xuống đường, tổ công tác yêu cầu Kh nhặt 02 gói lên cho vào túi quần trước bên trái về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã M để làm việc. Tại đây, tổ công tác kiểm tra, thu tại túi quần trước bên trái Kh mặc 02 gói ngoài là giấy tráng kim màu trắng trong có chất bột màu trắng. Kh khai là ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Khám xét Kh cấp chỗ ở của bị cáo Nguyễn Duy Kh không phát hiện, thu giữ gì .
Bản kết luận giám định số 265/KL-KTHS(MT) ngày 24/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1967 gam (không phẩy một nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam). Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ”.
Bản cáo trạng số 102/CT-VKSQP ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễ n Duy Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy Kh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễ n Duy Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2022; không á p dụ ng hì nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo . Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hố i hậ n về hà nh vi củ a mì nh và xin giả m nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo khai, do nghiện ma túy nên sáng ngày 23/6/2022, bị cáo đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực thôn Ch, xã M, huyện Qu sau đó hỏi mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy với số tiền 400.000 đồng. Bị cáo cầm 02 gói ma tuý trong lòng bàn tay phải, đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và đượ c chứ ng minh bằ ng cá c tà i liệ u , chứ ng cứ : Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản quản lý, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập cùng ngày 23/6/2022; biên bả n ghilời khai của những người chứng kiến; bản kết luận giám định
cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 07 giờ 45 phút ngày 23/6/2022, tại đường thôn Ch, xã M, huyện Qu, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Duy Kh có hành vi cất giấu trái phép trên người 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1967 gam,mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tộ i phạ m và hì nh phạ t đượ c quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Duy Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo hiể u được tác hại của ma túy và biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện , vì vậy bị cá o phải chịu mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không bị á p dụ ngtình tiết tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sư. Quá trình điều tra , truỵ tố và tạ i phiên tò a bị cá o khai bá o trung thự c toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i , do đó bị cáo được hưở ng tỉ nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự “
Ngườ i phạ m tộ i thành khẩn khai báo ” theo quy đị nh tạ i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, năm 2011 bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội thời hạn 12 tháng để cai nghiện; năm 2014 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù đã được pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, sửa đổi, đây là tình tiết cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã phân tí ch trên thấ y cầ n thiế t áp dụng hình phạt tù có thời hạn , cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thờ i gian nhất định, như mứ c á n đạ i diệ n Việ n kiể m sá t đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo tà ng trữ ma tú y mụ c đí ch để sử dụ ng cho bả n thân, bị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy cơ quan điề u tra thu giữ củ a bị cá o đượ c giám định kết luận là ma túy, loại heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Duy Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễ n Duy Kh 01 (mộ t) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1607 gam (không phẩy một nghìn sáu trăm linh bảy gam) mẫ u gử i giá m đị nh và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễ n Duy Kh trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 265/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 05/10/2022.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễ n Duy Kh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh Phụ; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Nhà tạm giữ CA huyện Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - UBND xã B, huyệ n Qu; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng Liên |