- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngụy Ngọc N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2022/HS-ST Ngày 21-12-2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Quang;
Ông Kim Niệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngụy Ngọc N, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn ĐK, xã TM, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngụy Ngọc K và bà Phan Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian 12 tháng theo Quyết định số 1164/QĐ-UBND ngày 21/5/2012.
- Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù theo Bản án số 23/2015/HSST ngày 01/4/2015 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 03 tháng 21 ngày tù theo Bản án số 99/2017/HSST ngày 05/5/2017 về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng theo Quyết định số 113/2018/QĐ-TA ngày 19/12/2018.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2022 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 30/7/2022, N đi xe ôm từ thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đến huyện Phú Giáo gặp T để nhờ T xin việc làm. Đến khoảng 13 giờ 45 phút ngày 31/7/2022, N gặp T tại đoạn đường ĐT741 thuộc xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T đưa cho N 01 túi bóng bên trong có 01 bịch nylon miệng kéo dính và 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gấp nhiều lớp bên trong chứa ma túy, 02 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, T chở N đến quán cà phê Thanh, thuộc tổ 3, ấp Bình Hòa, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì T và N ghé vào uống nước. T nói với N là đi mua bật lửa rồi T lên xe bỏ đi. Khi đó, N bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của N gồm: 01 bịch lylon hàn kín bên trong chứa ma túy; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gấp nhiều lớp bên trong chứa ma túy; 02 nỏ thủy tinh; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu; 01 điện thoại di động Oppo màu đồng.
Bản kết luận giám định số 377/KL-KTHS(MT) ngày 05/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0.7797 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 (một) bì thư được niêm phong. Khối lượng mẫu niêm phong: 0.4116 gam (M1) và 0.2083 gam (M2);
- 02 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu;
- 01 điện thoại di động Oppo màu đồng của Ngụy Ngọc N.
Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKSPG ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Ngụy Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Ngụy Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngụy Ngọc N từ 01 (một) năm 3 (ba) tháng đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 377/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 110 ngày 31/7/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Xuân P và hình dấu đỏ của Công an xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, có chữ ký của đối tượng bị bắt Ngụy Ngọc N (người chứng kiến); Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu); Trần Hoàng M (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng mẫu niêm phong: 0.4116 gam (M1) và 0.2083 gam (M2). Đây là vật cấm lưu hành nên đề nghị HĐXX tịch thu, tiêu hủy.
- 02 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu. Đây là công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị HĐXX tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Oppo màu đồng, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo Ngụy Ngọc N.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngụy Ngọc N thừa nhận ngày 31/7/2022, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo thống nhất với kết luận của cơ quan giám định về khối lượng, chất ma túy; với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Ngụy Ngọc N: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Ngụy Ngọc N khai nhận: Ngày 31/7/2022, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,4800 gam và 0,2997 gam ma túy loại Methamphetamine (mục đích để sử dụng), thì bị Công an xã An Bình, huyện Phú Giáo bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với Kết luận giám định số: 377/KL-KTHS(MT) ngày 05/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Ngụy Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[5] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây tổn hại đến sức khỏe của bản thân bị cáo mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Xét động cơ, mục đích phạm tội vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, bị xử phạt tù và áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[7] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[8] Đối với đối tượng tên T đưa ma túy cho bị cáo N, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[9] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong. Khối lượng mẫu niêm phong: 0.4116 gam (M1) và 0.2083 gam (M2). Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 02 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu. Đây là công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Oppo màu đồng, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Ngụy Ngọc N.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngụy Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngụy Ngọc N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 31/7/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 377/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 110 ngày 31/7/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Xuân P và hình dấu đỏ của Công an xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, có chữ ký của đối tượng bị bắt Ngụy Ngọc N (người chứng kiến); Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu); Trần Hoàng M (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng mẫu niêm phong: 0.4116 gam (M1) và 0.2083 gam (M2); 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một) nắp chai nhựa màu đen đục 02 lỗ trên đầu.
- Trả lại cho bị cáo Ngụy Ngọc N 01 (một) điện thoại di động Oppo màu đồng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngụy Ngọc N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND H. Phú Giáo; - Công an H. Phú Giáo; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS H. Phú Giáo; - Phòng PV 27 CA Bình Dương; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mạnh |