- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân Ng Doãn T-Ng Thị Huyền Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Doãn T: Anh Nguyễn Doãn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Huyền T.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:101/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Phước Linh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh
Ông Trần Quốc Đấu
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến - Thư ký toà án nhân dân thành phố V.
- Đại diện VKSND Thành phố V tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố V mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 286/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Doãn T; Sinh năm: 1978; Địa chỉ: Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 270, Sư đoàn 341, Quân khu 4; Thôn T T, phường N B, thị xã N S, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt tại phiên tòa;
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền T; Sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT: Khối T L, phường H D, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Phòng 304, Chung cư Y H, số 9A, đường N T, phường Q B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày, bản tự khai và những lời trình bày của anh Nguyễn Doãn T thì: anh và chị Nguyễn Thị Huyền T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 02 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Bình, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống gia đình tù túng, ngột ngạt. Từ thời điểm phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cảm thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên đã sống ly thân. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Doãn T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V giải quyết ly hôn chị Nguyễn Thị Huyền T .
Về con chung: anh Nguyễn Doãn T và chị Nguyễn Thị Huyền T có một con chung là Nguyễn Doãn Long V, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004. Đến nay, con chung đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Doãn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T hợp lệ, nhưng hiện nay chị T không còn sinh sống tại nơi đăng ký thường trú cũng như chỗ ở, chị T đi đâu không báo cho chính quyền và anh T biết, vậy nên Tòa án không có lời khai của chị T trong quá trình giải quyết.
Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh T và chị T cư trú kết quả: Chị T có đăng ký Hộ khẩu tại khối Tân Lộc, phường Hưng Dũng; cư trú thực tế tại chung cư Yên Hòa, phường Quán Bàu thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống có một con chung, vợ chồng có mâu thuẫn, nên thấy anh T không còn sống chung với chị T từ năm 2018, nguyên nhân cụ thể thì chính quyền địa phương không nắm rõ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết đúng vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Doãn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Huyền T. Về con chung: đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Anh Nguyễn Doãn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn là chị Nguyễn Thị Huyền Tcó đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại khối Tân Lộc, phường Hưng Dũng, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, triệu tập nguyên đơn, bị đơn để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nên bên đương sự không thống nhất được về nội dung giải quyết vụ án.
Về sự xét xử vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho chị T theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, chị T vẫn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa mà không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
. Về nội dung vụ án:
2.1. Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Doãn T và chị Nguyễn Thị Huyền T là hợp pháp, vì kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
2.2. Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Doãn T thấy: Sau khi kết hôn vợ chồng anh T và chị T chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2018, thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyễn xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ năm 2018, vợ chồng không thể sống chung cùng nhau nên đã sống ly thân. Tòa án đã kiên trì phân tích hậu quả của việc ly hôn nhưng anh T vẫn kiên quyết xin ly hôn và giữ nguyên nội dung khởi kiện và khẳng định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T. Về phía bị đơn, chị T không đến và không phối hợp với Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn, nên Tòa án không tiến hành được phiên hòa giải, chị T đã đi khỏi nơi cư trú và không chung sống cùng anh T. Xét thấy vợ chồng anh T, chị T có mâu thuẫn, mẫu thuẫn trầm trọng thể hiện rõ nét là anh T và chị T đã sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Anh T khẳng định không còn tình cảm với chị T nữa, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thấy cần cho anh Nguyễn Doãn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Huyền T là phù hợp.
2.3. Về con chung: anh Nguyễn Doãn T và chị Nguyễn Thị Huyền T có một con chung là Nguyễn Doãn Long V, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004. Hiện nay, con chung đã trưởng thành (trên 18 tuổi), anh Nguyễn Doãn T không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
2.4. Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Doãn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Doãn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị nêu trên của Việt kiểm sát nhân dân thành phố V thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào kho ản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Doãn T: Anh Nguyễn Doãn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Huyền T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Nguyễn Doãn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh T đã nộp theo Biên lai thu số 0010231 ngày 15/08/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố V. Anh Nguyễn Doãn T đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Doãn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Huyền T vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP V; - Chi cục THADS TPV; - UBND phường H B; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Phƣớc Linh |