vanban.org

Bản án 101/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim A. Bà Phan Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn C.

2/. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018 cho bà Phan Thị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Cho không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Anh không yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim A. Bà Phan Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 12 – 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường

2. Ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn – Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 259/2022/TLST-HNGĐ ngày 26/7/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim A, sinh năm 1997. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn C, sinh năm 1993. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2022 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Kim A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn C tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã P, huyện N. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn rồi về chửi bới, đánh đập bà rất nhiều lần, ông C còn có hành vi đập phá tài sản trong nhà, gần đây là khoảng tháng 07 năm 2022 ông C dùng vũ lực với bà và các con, quá sợ hãi nên bà đã bỏ về ở nhờ nhà chị ruột, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 07/2022 đến nay. Nay bà không còn tình cảm với ông C nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn C.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 người con chung là Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản lấy lời khai ngày 07/12/2022 cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phan Thị Kim A tự nguyện chung sống với nhau và có kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau đã hơn 5 tháng nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm nhau. Nay bà Anh hết tình cảm với ông và làm đơn xin ly hôn ông, ông không đồng ý vì ông còn tình cảm với bà Anh.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018 như bà Anh trình bày là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao 02 con cho bà Anh được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Phan Thị Kim A và ông Nguyễn C tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân từ tháng 07/2022 đến nay không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Kim A. Về con chung: Giao 02 người con chung là cháu Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018 cho bà Phan Thị Kim A được trực tiếp nuôi dưỡng, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Anh không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, lời khai của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị Kim A khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện N xin ly hôn với ông Nguyễn C ở thôn N, xã P, huyện N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện N thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Nội dung khởi kiện: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Kim A và ông Nguyễn C chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã P, huyện N trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay, không quan tâm đến nhau. Bị đơn ông Nguyễn C thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2022 đến nay, không quan tâm nhau. Chứng tỏ hôn nhân giữa bà Anh và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim A đề nghị được ly hôn với ông Nguyễn C là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là cháu Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018, bà Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng. Xét nguyện vọng của cháu Nguyễn Hồng Ái N được sống với mẹ, mặt khác trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn C đồng ý giao hai con chung cho bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng. Nên giao hai cháu Nhi và Huy cho bà Anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Anh không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của bà Anh.

Về án Phí: Bà Anh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim A. Bà Phan Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn C.

2/. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Hồng Ái N, sinh ngày 15/10/2014 và Nguyễn Phan Anh H, sinh ngày 18/4/2018 cho bà Phan Thị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Cho không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Anh không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Kim A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002640, ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Bà Anh đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4./ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ