vanban.org

Bản án 101/2022/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 25/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 29/03/2021 của Tòa án nhân dân Huyện T; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của ông Võ Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "tranh chấp dân sự - về Đòi lại quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH Đ NG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/DS-PT
Ngày: 25-03-2022
“V/v tranh chấp dân sự -
về Đòi lại quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Minh Tùng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn T Anh

Ông Lê Khắc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan - Thư k Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang-Ki m sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 21/3 và 25/3/2022, tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp t ử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 36/2021/TLPT-DS ngày 23 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp dân sự về đòi lại quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2021/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo.

Theo thông báo m lại phiên tòa t ử phúc thẩm số: 39/TB-TA ngày 24/01/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2022/QĐ-PT ngày 21/02/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa ch cư trú: Số 590, ấp Thượng, ã T, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Vủ P, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa ch cư trú: Số 945/B, ấp Thượng, ã T, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là luật sư Phạm Hoàng Đức-Công ty luật hợp doanh anh em luật sư thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa ch cư trú: Ấp Thượng, ã T, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

2. Chị Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1991 (có mặt).

3. Cháu Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 2008.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Thị Xuân N: Anh Nguyễn Vủ P, sinh năm 1986 (Là cha ruột của cháu N).

Cùng địa ch cư trú: Số 945/B, ấp Thượng, ã T, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Vủ P và ông Nguyễn Anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn ông Võ Văn H trình bày:

Năm 2013, ông Nguyễn Anh T có vay Ngân hàng TMCP Mê Kông - Chi nhánh huyện P, t nh An Giang số tiền 470.000.000 đ ng và tài sản bảo đảm cho khoản vay g m: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CHN 00355/QSDĐ, cấp ngày 21/9/2011, thửa số 2106, tờ bản đ số 01, diện tích 400m2, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T, do ông Nguyễn Anh T đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CHN 00354/QSDĐ, cấp ngày 21/9/2011, thửa số 4009, tờ bản đ số 01, diện tích 1.665m2, loại đất tr ng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T, do ông Nguyễn Anh T đứng tên.

Ông Võ Văn H trả nợ Ngân hàng TMCP Mê Kông - Chi nhánh huyện P, t nh An Giang thay cho ông T số tiền 470.000.000 đ ng, sau đó, ông H giao thêm cho ông T số tiền 330.000.000 đ ng, tổng cộng là 800.000.000 đ ng. Ông T giao toàn bộ giấy tờ đ ông H làm thủ tục chuy n nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất ông T đã thế chấp cho Ngân hàng. Ngày 20/01/2014, ông H được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 2106, tờ bản đ số 01, diện tích 400m2, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 4009, tờ bản đ số 01, diện tích 1.665m2, loại đất tr ng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T.

Ngoài ra, ông H và ông T có thỏa thuận trong thời hạn 02 năm, nếu ông T trả cho ông H số tiền 800.000.000 đ ng thì ông H sẽ chuy n nhượng đất lại cho ông T. Sau khi nhận chuy n nhượng đất từ ông T, ông H tr ng xoài.

Khi ông H nhận chuy n nhượng đất từ ông T thì trên đất có căn nhà của anh Nguyễn Vủ P (cháu ông T) có diện tích khoảng 65,35m2 (diện tích đo đạc thực tế là 59.2m2), thuộc thửa số 2106, tờ bản đ số 01. Đến nay, đã hết thời hạn ông H cho ông T nhận chuy n nhượng lại quyền sử dụng đất nêu trên và yêu cầu anh P di dời căn nhà đ trả đất cho ông H nhưng anh P không di dời. Ông H có yêu cầu UBND ã T giải quyết nhưng không thành.

Hiện nay, vật kiến trúc trên đất do anh P ây dựng g m: Mái che phía trước: Khung gỗ tạp, mái tole sóng tròn, vách tole, nền láng i măng; Nhà chính: khung gỗ tạp ẻ vuông, mái tole sống vuông, vách tole sóng vuông, đòn tay gỗ tạp nền lát gạch bông; Nhà tắm: Khung gỗ tạp (tre), mái tole sóng tròn, vách tole sóng tròn, nóng gạch và gỗ tạp.

Nay, ông Võ Văn H yêu cầu anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T và cháu Nguyễn Thị Xuân N di dời vật kiến trúc trên đất trả cho ông H diện tích 59.2m2, thuộc thửa số 2106, tờ bản đ số 01, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T, do ông Võ Văn H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 và M1 theo Bản đ trích đo ngày 11/3/2020 của Công ty TNHH dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

Ông Võ Văn H hỗ trợ chi phí di dời vật kiến trúc trên đất cho anh Nguyễn Vủ P và chị Nguyễn Thị Anh T số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đ ng).

2. Bị đơn anh Nguyễn Vủ P trình bày:

Ngu n gốc phần đất tranh chấp là của cụ Đinh Thị T (bà ngoại anh P, đã chết). Sau khi cụ T chết, các con cụ T g m: Bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thanh K, bà Nguyễn Thị L thống nhất k tên ủy quyền cho ông Nguyễn Anh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Vì, thời đi m nêu trên ông Anh T sống chung với cụ T, chăm sóc cụ T nên anh, chị, em của ông Anh T thống nhất cho ông Anh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Cụ T có hai người ch ng. Cụ T và người ch ng T nhất là ông Nguyễn Văn T (đã chết) có các con g m: Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị L.

Cụ T và người ch ng T hai là ông Kha Phú P có các con g m: Ông Nguyễn T A và ông Nguyễn Anh T.

Năm 2009, anh P có nghề sửa điện tử dân dụng nhưng chưa có chỗ m tiệm nên cụ T cho anh P ây dựng nhà trên phần đất tranh chấp hiện nay đ m tiệm điện tử. Cụ T cho ây dựng nhà đ m tiệm điện tử chứ không ác định diện tích cho là bao nhiêu, không ác định là cho cụ th như thế nào. Vì vậy, năm 2009 anh P ây dựng tiệm điện tử ngang 3.3m, dài khoảng 7m, đến năm 2011, anh P có ây dựng m rộng thêm như hiện nay.

Sau đó, ông Nguyễn Anh T có ác định là cho anh P diện tích ngang 5m, dài 35m. Tuy nhiên, việc cụ T cho anh P ây dựng nhà đ m tiệm điện tử cũng như ông Anh T hứa cho anh P quyền sử dụng thì ch thỏa thuận miệng không lập thành văn bản.

Anh P không biết việc ông Anh T đã chuy n nhượng đất cho ông H trong đó có phần đất anh P ây dựng nhà m tiệm điện tử. Đến năm 2017, ông H có yêu cầu anh P di dời nhà trên đất thì anh P mới biết ông Anh T đã chuy n nhượng cho ông H. Việc tranh chấp giữa anh P và ông H thì có yêu cầu UBND ã T giải quyết nhưng không thành. Khi hòa giải tại UBND ã T, anh P có yêu cầu được lưu cư lại trong thời hạn 10 năm nhưng ông H ch cho lưu cư trong thời hạn 7 năm nên hòa giải không thành.

Hiện nay, vật kiến trúc trên đất do anh P ây dựng g m: Mái che phía trước: Khung gỗ tạp, mái tole sóng tròn, vách tole, nền láng i măng; Nhà chính: khung gỗ tạp ẻ vuông, mái tole sống vuông, vách tole sóng vuông, đòn tay gỗ tạp nền lát gạch bông; Nhà tắm: Khung gỗ tạp (tre), mái tole sóng tròn, vách tole sóng tròn, nóng gạch và gỗ tạp.

Nay, anh Nguyễn Vủ P không đ ng theo yêu cầu của ông H. Anh P yêu cầu được lưu cư đến năm 2027 sẽ trả đất cho ông H. Trường hợp anh P có điều kiện di dời nhà sớm hơn thì anh P sẽ trả đất sớm cho ông H hoặc ông H hỗ trợ anh P số tiền 100.000.000 đ ng (Một trăm triệu đ ng) thì anh P sẽ di dời nhà trả đất cho ông H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Anh T không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Anh T trình bày: Chị T thống nhất với phần trình bày của anh P.

3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Tuyên ử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của ông Võ Văn H.

Buộc anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T, cháu Nguyễn Thị Xuân N di dời vật kiến trúc trên đất g m: Mái che phía trước: Khung gỗ tạp, mái tole sóng tròn, vách tole, nền láng i măng; Nhà chính: khung gỗ tạp ẻ vuông, mái tole sống vuông, vách tole sóng vuông, đòn tay gỗ tạp nền lát gạch bông; Nhà tắm: Khung gỗ tạp (tre), mái tole sóng tròn, vách tole sóng tròn, nóng gạch và gỗ tạp.

Buộc anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T và cháu Nguyễn Thị Xuân N trả cho ông H diện tích 59.2m2, thuộc thửa số 2106, tờ bản đ số 01, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T, trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 và M1 theo Bản đ trích đo ngày 11/3/2020 của Công ty TNHH dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

(Kèm theo Biên bản em t thẩm định tại chỗ ngày 11/3/2020, Biên bản định giá tài sản ngày 11/3/2020 và Bản đ trích đo ngày 11/3/2020 của Công ty TNHH dịch vụ và đo đạc Bảo Long).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn H về việc hỗ trợ chi phí di dời vật kiến trúc trên đất cho anh Nguyễn Vủ P và chị Nguyễn Thị Anh T số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đ ng).

K từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, các chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự.

4. Sau khi t ử sơ thẩm tuyên các đương sự kháng cáo như sau:

- Bị đơn anh Nguyễn Vủ P có kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận cho anh diện tích đất ngang 5m dài 35 m.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo với các yêu cầu sau:

+ Giữ y hiện trạng nhà và công trình phụ cho anh Nguyễn Vủ P được tiếp tục sử dụng và công nhận cho anh P diện tích đất ngang 5m dài 35m (dt 175 m2) thuộc thửa 4009, tờ bản đ số 01 tọa lạc ã T, huyện T.

+ Yêu cầu ông H phải phải trả giá trị lò sấy lúa trị giá 300.000.000 đ ng, 01 trạm biến áp do ông Anh T lắp đặt trị giá 113.000.000 đ ng và các tài sản khác là 38.000.000 đ ng. Tổng cộng với số tiền 452.000.000 đ ng.

+ Ông Nguyễn Anh T yêu cầu được chuộc lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp với số tiền 600.000.000 đ ng.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn Võ Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện.

- Bị đơn anh Nguyễn Vũ P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo

- Người liên quan ông Nguyễn Anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Anh Nguyễn Vủ P được cụ Đinh Thị T cho trên đất từ năm 1990 và đã cất nhà trên đất đến nay, anh cũng đã có đăng k hộ khẩu và con anh đang đi học tại địa P. Anh đã sử dụng ổn định đến này và được anh Nguyễn Anh T và nhưng người cùng hàng thừa kế với ông T ác nhận là anh được cụ T cho phần đất 175 m2. Việc ông Anh T đi đăng k quyền sử dụng đất và được cấp đất là chưa đúng quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đ ng t ử công nhận cho anh P diện tích 175m2 và chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Vủ P.

- Đại diện Viện Ki m sát nhân dân T nh phát bi u kiến:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị hội đ ng t ử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đương sự. Tuy nhiên, do có sự tự nguyện của ông Võ Văn H về thời hạn lưu cư tại cấp phúc thẩm nên sửa một phần bản án sơ thẩm số 03/2021/DSST ngày 22-01-2021 của Tòa án nhân dân huyện T.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được ki m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và yêu cầu của bị đơn, người liên quan ác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự-Đòi lại quyền sử dụng đất ” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi t ử sơ thẩm, bị đơn, người liên quan không đ ng với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T nh thụ l giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về ngu n gốc đất là của cụ Đinh Thị T. Năm 2011, cụ T chết thì anh, chị, em của ông Anh T có lập Tờ tự thỏa thuận các có ác nhận của UBND ã T. Theo đó, ông T được thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2106, tờ bản đ số 1. Sau đó, UBND xã T tiến hành niêm yết công khai nội dung nhận tài sản thừa kế từ ngày 15/6/2011 đến ngày 15/7/2011 và ngày 21/9/2011 ông Nguyễn T Anh được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Quyền sử dụng đất diện tích 400m2, thửa số 2106, tờ bản đ số 1, mục đích sử dụng: Đất nông thôn. Như vậy, có cơ s ác định ông Nguyễn Anh T được thừa kế và s hữu hợp pháp quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định tại đi m c khoản 1 Điều 50 và khoản 5 Điều 113 Luật đất đai năm 2003.

Việc chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Anh T và ông H có lập Hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất và được chứng thực tại UBND ã T ngày 08/01/2014. Như vậy, có cơ s ác định Hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Anh T và ông H tuân thủ đúng quy định về hình Tc, thủ tục chuy n nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003. Sau đó, ông H tiến hành thủ tục kê khai đăng k quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Ngày 20/01/2014, Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn H, số bìa BO 785242, cấp ngày 20/01/2014 là phù hợp theo quy định tại Điều 50 luật đất đai năm 2003. Từ đó, có cơ s ác định quyền sử dụng đất thửa số 2106, tờ bản đ số 01, diện tích 400m2, loại đất nông thôn, đất tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Võ Văn H.

Về kháng cáo của các đương sự:

- X t kháng cáo của anh Nguyễn Vủ P, Hội đ ng t ử t thấy: Việc anh cho rằng vào năm 2009, Cụ Đinh Thị T (chủ đất) cho ây dựng nhà đ m tiệm điện tử nhưng không ác định diện tích cho là bao nhiêu nên anh P ây dựng tiệm điện tử ngang 3.3m, dài khoảng 7m, sau đó đến năm 2011 thì anh P có xây dựng m rộng thêm như hiện nay. Việc trình bày của anh không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh là phía Cụ T đã cho anh diện tích 175 m2 như anh yêu cầu. Quá trình sử dụng anh không đăng k , kê khai đất hoặc làm thủ tục chuy n nhượng phần diện tích đất anh đã được cho qua tên anh. Mặt khác, việc ông Nguyễn Anh T thừa kế đất, sau đó chuy n nhượng toàn bộ thửa đất tranh chấp (có diện tích đất anh đang yêu cầu) anh đều biết nhưng cũng không có tranh chấp hay khiếu nại ngăn cản. Đ ng thời, khi hòa giải ớ cấp c s và giải quyết tại cấp sơ thẩm anh ch yêu cầu cho anh lưu cư 10 năm hoặc anh đ ng di dời nhà trả đất thì yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời là 100.000.000 đ ng. Điều này khẳng định phần đất trên không phải là tài sản của anh được cụ T cho mà anh ch nhờ trên đất. Do đó, việc anh kháng cáo yêu cầu công nhận cho anh diện tích 175 m2 đất là không có căn cứ đ xem xét. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Võ Văn H cũng tự nguyện đ ng cho anh P lưu cư đến năm 2025, t thấy đây là sự tự nguyện của ông H nên xem xét cho anh P được lưu cư đến năm 2025.

- X t các yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Anh T, Hội đ ng t ử t thấy:

Phần đất đang tranh chấp ông Nguyễn Anh T đã chuy n nhượng hoàn tất cho ông Võ Văn Huỳnh, mặc dù hợp đ ng có thời hạn cho chuộc lại đất trong thời hạn 02 năm nhưng đến hạn ông Anh T vẫn không chuộc lại đất và đã quá thời hạn chuộc đất 02 năm nên Hợp đ ng chuy n nhượng đã có hiệu lực pháp luật và việc cấp đất cho ông H là hợp pháp.

Mặt khác, tại cấp sơ thẩm mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ cho ông và ông biết việc kh i kiện của ông Võ Văn H nhưng ông không có văn bản kiến và yêu cầu gì trong vụ kiện nên cấp sơ thẩm t ử vắng mặt đối với ông. Sau khi ông nhận được bản án sơ thẩm thì ông kháng cáo và yêu cầu bổ sung nên các yêu cầu này là ngoài phạm vi t ử phúc thẩm của Hội đ ng t ử nên Hội đ ng t ử không xem xét.

Tuy nhiên, Việc ông Nguyễn Anh T yêu cầu ông Võ Văn H b i thường số tiền 452.000.000 đ ng thì ông có quyền kh i kiện ông H bằng vụ kiện đòi lại tài sản khác. Đối với yêu cầu chuộc lại đất thì ông có th liên hệ với ông H đ thỏa thuận chuy n nhượng lại phần đất đã chuy n nhượng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đ ng t ử phúc thẩm xét thấy không có cơ s đ xem xét yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Vủ P và ông Nguyễn Anh T. Tuy nhiên, do có sự thỏa thuận về thời gian lưu tại cấp phúc thẩm nên sửa một phần án sơ thẩm và cấp sơ thẩm tuyên án có thiếu sót nên bổ sung thêm cho hoàn ch nh. Do đó, sửa một phần án bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện T.

Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đương sự nên đương sự phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí các đương sự đã tạm ứng.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

X t lời trình bày của luật sư là chưa phù hợp nên không chấp nhận.

Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện ki m sát t nh Đ ng Tháp là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 29/03/2021 của Tòa án nhân dân Huyện T;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của ông Võ Văn H.

Hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Anh T và ông Võ Văn H là hợp pháp.

Buộc anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T, cháu Nguyễn Thị Xuân N di dời vật kiến trúc trên đất g m: Mái che phía trước: Khung gỗ tạp, mái tole sóng tròn, vách tole, nền láng i măng; Nhà chính: khung gỗ tạp ẻ vuông, mái tole sóng vuông, vách tole sóng vuông, đòn tay gỗ tạp nền lát gạch bông; Nhà tắm: Khung gỗ tạp (tre), mái tole sóng tròn, vách tole sóng tròn, nóng gạch và gỗ tạp.

Buộc anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T và cháu Nguyễn Thị Xuân N trả cho ông H diện tích 59.2m2, thuộc thửa số 2106, tờ bản đ số 01, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp Thượng, ã T, huyện T, trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 và M1 theo Bản đ trích đo ngày 11/3/2020 của Công ty TNHH dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

(Kèm theo Biên bản em t thẩm định tại chỗ ngày 11/3/2020, Biên bản định giá tài sản ngày 11/3/2020 và Bản đ trích đo ngày 11/3/2020 của Công ty TNHH dịch vụ và đo đạc Bảo Long).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn H về việc hỗ trợ chi phí di dời vật kiến trúc trên đất cho anh Nguyễn Vủ P và chị Nguyễn Thị Anh T số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đ ng). Hộ anh Nguyễn Vủ P được lưu cư đến năm 2025.

K từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Nguyễn Vủ P, chị Nguyễn Thị Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.480.000 đ ng (Một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đ ng).

Ông Võ Văn H phải chịu án phí số tiền 1.000.000 đ ng (Môt triệu đ ng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 654.000 đ ng (Sáu trăm năm mươi bốn nghìn đ ng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: BH/2018/0008232 ngày 20/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Như vậy, ông H còn phải nộp số tiền 346.000 đ ng (Ba trăm bốn mươi sáu nghìn đ ng).

4. Về chi phí tố tụng: Chi phí em t thẩm định tại chỗ và định giá là 400.000 đ ng (Bốn trăm nghìn đ ng), chi phí Hợp đ ng đo đạc là 2.237.00 đ ng (Hai triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn đ ng), tổng cộng là 2.637.000 đ ng (Hai triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn đ ng) ông H tự nguyện chịu, ông H đã nộp tạm ứng và chi ong.

- Về án phí phúc thẩm:

Ông Nguyễn Vủ P và ông Nguyễn Anh T mỗi người phải chịu 300.000 đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền án phí đã nộp theo các biên lai số 0011064 ngày 04-02-2021 và biên lai số 0014479 ngày 21-5-2021.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ