vanban.org

Bản án 101/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương ngọc T phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 101 /2021/HSST
Ngày 17 -11 -2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên và bà Đỗ Thị Liên;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2021/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với:

- Bị cáo: Dương Ngọc T (tên gọi khác: Không) sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH XD TM ICI; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Dương Thị T; vợ: Nguyễn Thị N, con: Có 04 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn Dương Cương, xã Đại Cương, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; có Đơn xin vắng mặt.

+ Công ty TNHH FUJI ELECTRIC INDUSTRY Việt Nam; địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, người đại diện: YUKIHIRO FUJIMOTO – tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: ông KEISHI FUJIMOTO, chức vụ: Trưởng phòng cấp cao; người phiên dịch: bà Lê Thị Thu H– Trưởng phòng nhân sự; có Đơn xin vắng mặt.

+ Anh Ngô Hùng C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ 16, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương N T là giám đốc Công ty TNHH XD TM ICI (được thành lập theo giấy chứng nhận doanh nghiệp số 0700525718 do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Nam cấp ngày 18/3/2011). Quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty TNHH XD TM ICI đã ký kết 03 hợp đồng kinh tế với Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam, cụ thể: Hợp đồng số 4032019/ĐL-ICI, ngày 04/3/2019 về việc thi công lắp đặt cửa cuốn nhanh; Hợp đồng số 15032019/ICI, ngày 15/3/2019 về việc thi công lắp vách thạch cao, vách panel và cửa panel và Hợp đồng số 8042019/ICI, ngày 08/4/2019 về việc lắp vách panel, vách kính hai lớp an toàn, cửa nhôm panel tại Khu công nghiệp Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Toàn bộ các hạng mục nêu trên đều thi công tại xưởng sản xuất, thuộc diện phải được Cơ quan chức năng có thẩm quyền thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy chữa cháy.

Sau khi ký các hợp đồng nêu trên, Dương Ngọc T làm việc trực tiếp với Ngô Hùng C là quản lý của Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam để thực hiện việc thi công các hạng mục theo hợp đồng đã ký kết. Đối với hợp đồng số 15032019/ICI, hạng mục thi công này đã được thẩm duyệt theo hồ sơ thiết kế chung của nhà máy. Đối với hợp đồng số 403/2019/ĐL-ICI thì Ngô Hùng C nhờ T (trao đổi bằng miệng) hoàn thiện các thủ tục để đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam thẩm duyệt hồ sơ thiết kế sau đó đã được Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH trả lời bằng văn bản số 283/PC07, ngày 10/4/2019 gửi về Công ty của T, T dùng điện thoại di động cá nhân chụp hình lại Công văn số 283/PC07. Khoảng cuối tháng 11/2020, khi T thực hiện hợp đồng số 8042019/ICI thì C tiếp tục nhờ T hoàn thiện các thủ tục đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CHCN - Công an tỉnh Hà Nam thẩm duyệt hồ sơ thiết kế và được T đồng ý. Thực tế T không xây dựng, không gửi văn bản số 11920, ngày 11/9/2020 đến phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam mà T đã sử dụng máy tính xách tay cá nhân tự soạn thảo, làm giả văn bản có nội dung đồng ý cho Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam thi công. Sau đó sửa hình ảnh chụp công văn số 283/PC07 tách lấy chữ ký của Đại tá Nguyễn Văn C là Trưởng phòng và hình dấu tròn của Phòng Cảnh sát PCCC&CHCN - Công an tỉnh Hà Nam để chèn vào văn bản đã soạn thảo, sau đó T dùng máy in mầu của T để in ra một văn bản không số /PC07, đề ngày 02/12/2020, có chữ ký của Đại tá Nguyễn Văn C chức danh Trưởng phòng (thực tế đồng chí C nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu từ ngày 01/4/2020) và bàn giao cho Ngô Hùng C để hoàn thiện hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy đối với hạng mục đã thi công, sau đó Dương N T được Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam thanh toán toàn bộ số tiền các hạng mục theo hợp đồng đã ký kết.

Đến ngày 08/6/2021, Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh Hà Nam kiểm tra hoạt động đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn phòng cháy, chữa cháy tại Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam phát hiện: Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam có lưu giữ 01 công văn không số PC/07 đề ngày 02/12/2020 tại phần trên góc trái ghi tên Phòng cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh Hà Nam về việc phúc đáp Công văn số 11920, ngày 11/9/2020 của Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam với nội dung: đồng ý việc lắp đặt vách ngăn Panel và kính an toàn 6.38 tại xưởng sản xuất của Công ty, có chữ ký của Đồng chí Đại tá Nguyễn Văn C - Trưởng phòng và hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh Hà Nam. Ngay sau khi phát hiện văn bản có dấu hiệu làm giả nêu trên. Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam đã lập biên bản thu giữ tài liệu và chuyển toàn bộ tài liệu vụ việc có liên quan đến hành vi có dấu hiệu làm giả giấy tờ nêu trên đến Cơ quan An ninh điều tra để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành thu giữ của Dương Ngọc T: 01 điện thoại SamSung bên trong có chứa 01 sim Vietel, số seri 8984048000001419195, số thuê bao: 0975672939; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell, bên trong có 01 ổ cứng, dung lượng 320GB, số Seri: WX 31A20H3779; 01 cây máy vi tính màu đen bên trong có chứa 01 ổ cứng, nhãn hiệu SamSung, dung lượng 160GB; số Seri S14DJ9FB307723; 01 màn hình máy vi tính nhãn hiệu SamSung màu đen; Model: IS19D300NY; 01 máy in màu, nhãn hiệu Canon Model: IX6770; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell màu đen, bên trong có 01 ổ cứng, dung lượng 128GB, số Seri: 9100310A06569. Cơ quan An ninh điều tra đã phối hợp Phòng kỹ thuật nghiệp vụ và Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Hà Nam kiểm tra, khai thác dữ liệu điện tử đối với các thiết bị tạm giữ của Dương Ngọc T đã phát hiện trên các thiết bị thu giữ có lưu trữ tài liệu liên quan đến hành vi làm giả tài liệu của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, Công an tỉnh Hà Nam. Cơ quan An ninh điều tra đã sao lưu dữ liệu khai thác thiết bị điện tử trên ra 01 ổ cứng nhãn hiệu Orico, dung lượng sao lưu 141GB và in ra 35 tờ giấy A4 những tài liệu có liên quan đến vụ án.

Quá trình xác minh tại Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam xác định: Đồng chí Đại tá Nguyễn Văn C1 nghỉ công tác để chờ đủ tuổi nghỉ chế độ hưu từ ngày 01/4/2020 theo Quyết định số 2427/QĐ-BCA-X01, ngày 03/4/2020 của Bộ công an.

Ngoài ra, Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH có tiếp nhận văn bản số 26219, ngày 28/02/2019 của Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam về việc lắp cửa cuốn nhanh, do việc lắp đặt cửa cuốn nhanh, không làm ảnh hưởng đến kết cấu, kiến trúc...hệ thống phòng cháy, chữa cháy và các hệ thống kỹ thuật có liên quan. Do không phải thực hiện các thủ tục thẩm duyệt thiết kế phòng cháy, chữa cháy nên ngày 10/04/2019, Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH có văn bản số 283/PC07 đồng ý cho Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam thi công theo sơ đồ thiết kế.

Việc Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam chia nhà xưởng bằng vách Panel, vách kính hai lớp an toàn và cửa nhôm Panel có diện tích 360m2 phải được Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy, chữa cháy trước khi thi công và kiểm tra kết quả nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy, cấp văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy trước khi đưa vào sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 20/ PC09-TL ngày 26/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Xác định Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam không ban hành văn bản không số, ngày 02/12/2020; chữ ký và hình dấu tròn tại văn bản này được tạo ra bằng phương pháp in màu.

Cáo trạng số 50/CT-VKS - P1 ngày 18/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Dương Ngọc T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với vị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Dương N T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh, tính chất mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế số 8042019/ICI ngày 08/4/2019, giữa Công ty TNHH XD TM ICI với Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam. Sau khi ký hợp đồng, Dương Ngọc T là Giám đốc Công ty ICI đã thi công đầy đủ các hạng mục theo hợp đồng đã ký kết nhưng chưa thanh lý được hợp đồng, bởi Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam chưa thực hiện các thủ tục đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam cấp văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy trước khi đưa vào sử dụng, nên Dương Ngọc T đã sử dụng máy tính xách tay cá nhân tự soạn thảo và làm giả văn bản không số /PC07, đề ngày 02/12/2020 của Phòng Cảnh sát PCCC&CHCN - Công an tỉnh Hà Nam, dùng máy in mầu để in ra một văn bản giả rồi đưa cho anh Ngô Hùng C là quản lý Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam và được Công ty này thanh lý hợp đồng, trả tiền các hạng mục theo hợp đồng đã ký kết cho Công ty ICI.

Hành vi làm giả 01 loại tài liệu nêu trên của của bị cáo Dương Ngọc T gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 50/CT-VKS - P1 ngày 18/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, bị cáo xuất trình Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương). Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, sau khi cân nhắc mọi mặt, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cần ấn định mức hình phạt phù hợp và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt. Điều này cũng phù hợp với đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

- Hình phạt bổ sung: Như đã nhận định, hành vi phạm tội của bị cáo không mang tính vụ lợi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế của bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về các hành vi khác:

Đối với Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam, Cơ quan An ninh điều tra xác định: Công ty được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên số 0700801284 đăng ký lần đầu ngày 27/02/2018, đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 24/03/2021, người đại diện là ông Keishi Fujimoto, chức vụ Phó giám đốc (theo giấy ủy quyền số 01/FDKV-UQ, ngày 01/8/2018 của Công ty Yukihiro Fujimoto, Tổng giám đốc. Trong quá trình xây dựng cải tạo xưởng sản xuất, Công ty có ký 03 Hợp đồng với Công ty TNHH TM xây dựng ICI do Dương N T làm đại diện (trong đó có Hợp đồng số 8042019/ICI, ngày 08/4/2019) và giao cho anh Ngô Hùng C là quản lý nhà máy có nhiệm vụ theo dõi, thực hiện các nội dung liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng cải tạo xưởng sản xuất mà Công ty đã ký kết với Dương N T. Sau khi ký hợp đồng, anh C thỏa thuận bằng miệng để nhờ T hoàn thiện các thủ tục liên quan đến đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy đối với địa điểm thi công đề nghị các cơ quan chức năng cấp phép phê duyệt trước khi đưa vào sử dụng. Sau đó T về làm giả văn bản không số

/PC07 đề ngày 02/12/2020 của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, Công an tỉnh Hà Nam. Khi anh C nhận văn bản rồi đưa cho bộ phận chuyên môn của Công ty, anh C và Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam không biết văn bản nêu trên là giả nên đã làm thủ tục thanh lý hợp đồng và trả tiền cho Dương N T. Việc không thực hiện đầy đủ các quy trình để hoàn thiện hồ sơ đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam cấp phép phê duyệt trước khi đưa vào sử dụng. Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã có văn bản kiến nghị với đơn vị chức năng để xem xét xử lý về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy đối với TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chị Nguyễn Thị N là vợ của Dương N T là người ăn, ở sinh hoạt cùng nhau với T tại nhà riêng ở thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Quá trình điều tra xác định chị N không biết và không tham gia cùng T làm giả văn bản của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, Công an tỉnh Hà Nam. Do vậy Cơ quan An ninh điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý chị N với vai trò đồng phạm trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với anh Ngô Hùng C là quản lý nhà máy của Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam, anh C được Công ty giao có nhiệm vụ theo dõi, giám sát quá trình thi công, cải tạo nhà xưởng sản xuất của Công ty, là người trực tiếp làm việc với Dương N T. Việc anh C thỏa thuận nhờ T hỗ trợ Công ty hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục để đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, Công an tỉnh Hà Nam thẩm duyệt hồ sơ thiết kế đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy đã được Lãnh đạo Công ty biết và chấp thuận, Công ty TNHH Fuji Electric Industry Việt Nam xác định việc thỏa thuận này không phát sinh chi phí gì ngoài hợp đồng. Quá trình điều tra anh C và T đều khai nhận anh C không biết, không tham gia việc làm giả văn bản của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH - Công an tỉnh Hà Nam cùng Dương N T. Do vậy Cơ quan An ninh điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý anh C với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 Điện thoại di động Sam sung có IMEIL 359934099554245, bên trong có 01 sim; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen có modei No PP38L; 01 cây vi tính màu đen và một màn vi tính nhãn hiệu Sam sung; 01 máy in nhãn hiệu Canon có modedl IX6770; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen có model LATITUDEE5540 là vật chứng đã thu giữ của Dương N T. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ, phương tiện của bị cáo đã dùng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 ổ cứng nhãn hiệu Orico, Cơ quan An ninh điều tra sao lưu trữ toàn bộ dữ liệu của các thiết bị điện tử thu giữ của Dương N T cần lưu hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

[ 9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động Sam sung có IMEIL 359934099554245, bên trong có 01 sim; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen có modei No PP38L; 01 cây vi tính màu đen và một màn vi tính nhãn hiệu Sam sung; 01 máy in nhãn hiệu Canon có modedl IX6770; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen có model LATITUDEE5540.

- Lữu trữ hồ sơ vụ án: 01 ổ cứng nhãn hiệu Orico.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 19 tháng 10 năm 2021.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Dương Ngọc T phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ