- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H phạm tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101 /2021/HSPT Ny 16/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
------------------------------------
Thành phần xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh B.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên toà: Thân Mạnh Cường - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong Ny 16/8/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số 206/2021/HSPT Ny 04/8/2021 đối với các bị cáo Lê Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo: Lê Văn H, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn S, xã T, Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa: 09/12; con ông Lê Văn H và bà Lê Thị H; vợ là Lê Thị N sinh năm 1990, có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ Ny 09/6/2021 đến nay, hiện tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa)
Luật sư bào chữa cho bị cáo:
Bà Phạm Thị T – Luật sư thuộc Công ty luật số 1 Hà Nội – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Xin vắng mặt)
Bà Cao Thị H - Luật sư - thuộc Công ty luật số 1 Hà Nội – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt)
Bà Bùi Thị T1 – Luật sư - thuộc Công ty luật số 1 Hà Nội – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (có mặt)
* Người kháng cáo: Bị cáo Lê Văn H
* Người tham gia tố tụng khác: Vụ án còn có bị cáo Lò Văn L, đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo L; 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, 9 người làm chứng và 2 người chứng kiến nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện V và bản án hình sự sơ thẩm số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang thì vụ án có nội dung như sau:
Do dịch Covid -19 diễn biến phức tạp trên địa bàn Huyện V, Ny 17/5/2021 Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang có Quyết định số 515 về việc thực hiện cách ly xã hội Huyện V và 3 xã của Huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bắt đầu từ 00 giờ 00 phút Ny 18/5/2021 04 Khu Công nghiệp là Đ, Q, V và S - N tạm dừng hoạt động; thực hiện cách ly xã hội Huyện V theo Chỉ thị số 16/CT-TTg Ny 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ cho đến khi có thông báo mới. Bảo đảm theo nguyên tắc gia đình cách ly với gia đình, thôn cách ly với thôn, xã cách ly với xã. Yêu cầu mọi người dân ở tại nhà, chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết như: Mua lương thực, thực phẩm, thuốc men, cấp cứu hoặc làm việc tại nhà máy, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu không bị đóng cửa, dừng hoạt động.
Để thực hiện công tác phòng chống dịch COVID-19 trên địa bàn Huyện V, Ny 25/5/2021 Huyện ủy V đã ban hành công văn số 497/-CV/HU chỉ đạo UBND các xã, thị trấn trên địa bàn Huyện thành lập mạng lưới tổ COVID cộng đồng nhằm triển khai nhanh chóng, đồng bộ công tác điều tra, giám sát dịch tễ.
Ny 30/5/2021, Đảng ủy thị trấn N, Huyện V có Quyết định số 58- QĐ/ĐU về việc thành lập các tổ Covid cộng đồng tại các Tổ dân phố trên địa bàn thị trấn N. Thành viên các tổ Covid cộng đồng tại Tổ dân phố N, thị trấn N gồm có 06 tổ, mỗi tổ là 03 người. Trong đó, anh Nguyễn Văn D là thành viên tổ Covid cộng đồng số 3, thực hiện nhiệm vụ tại Tổ dân phố N, thị trấn N, Huyện V.
Nhiệm vụ của tổ là hằng Ny đi từng ngõ, gõ từng nhà để: Thực hiện truyền thông, vận động, nhắc nhở nhân dân các biện pháp phòng, chống dịch; yêu cầu và hướng dẫn người dân tự theo dõi sức khỏe, chủ động khai báo y tế khi bản thân hoặc người trong gia đình có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh.
Tổ còn có nhiệm vụ hỏi, giám sát, phát hiện và báo cáo ngay bằng điện thoại cho chính quyền địa phương và y tế thị trấn những trường hợp nghi mắc COVID-19 phát hiện được tại các hộ gia đình; phát hiện, báo cáo các cấp có thẩm quyền những trường hợp không tự giác khai báo y tế, không chấp hành thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định và thực hiện các nhiệm vụ khác phù hợp.
Khoảng 21 giờ 40 phút Ny 08/6/2021, anh Nguyễn Văn D mặc đồng phục dân quân tự vệ, đeo băng đỏ có in chữ màu vàng “Tổ Covid cộng đồng” do ban chỉ đạo phòng chống Covid thị trấn N cấp phát, đến chốt phong tỏa, cách ly y tế được thiết lập tại đoạn đường mới thuộc xóm 3, tổ dân phố N, thị trấn N, Huyện V để thực hiện nhiệm vụ. Tại đây, anh D, được anh Đỗ Văn T là người trực chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid 19, thông báo có phát hiện một đối tượng nam thanh niên đi xe mô tô, không đeo khẩu trang đi qua chốt kiểm soát đi vào phòng trọ thứ 2 dãy nhà trọ của gia đình anh Vũ Văn N là khu đã bị cách ly y tế vì có người dương tính với vi rút Covid- 19 (Fo). Sau khi được anh T thông báo, anh D và anh T đi đến khu vực dãy nhà trọ của gia đình anh N, mục đích để kiểm tra thông tin ai là người đã đi ra khỏi khu vực đã bị cách ly. Khi đến trước cửa dãy trọ của gia đình anh N, anh D đứng dưới lòng đường tại vị trí bên ngoài hàng rào cách ly (được thiếp lập bằng dây băng màu trắng, trên thân dây có in dòng chữ “Khu vực cấm vào”), soi đèn pin rọi vào phòng trọ thứ hai đang mở cửa và hỏi ai là người vừa ra ngoài nhưng không đeo khẩu trang. Lúc này, Lê Văn H không đeo khẩu trang, đang dắt xe mô tô cất vào trong phòng trọ nghe thấy anh D hỏi đã nói “Mày hỏi làm gì”, anh D trả lời “Đây là khu vực phong tỏa Fo, ai cho mày ra”, H nói “Bố tao cho tao ra, thì mày làm gì”. Thấy H có thái độ không chấp hành, anh D sử dụng tính năng quay Video trên điện thoại cá nhân của mình ghi lại diễn biến sự việc. Thấy anh D quay video, H từ phòng trọ đi qua hàng rào cách ly xông vào dùng tay đấm anh D nhưng không trúng. Tại thời điểm này, anh T có lời nói tuyên truyền, nhắc nhở mọi người chấp hành quy định về phòng chống dịch Covid-19 thì Lò Văn L đi ra khỏi hàng rào cách ly để cùng H có hành vi chửi bới, xúc phạm và thách thức tổ công tác. Thấy các đối tượng không chấp hành, anh D đã gọi điện thoại thông báo cho anh Đỗ Văn G là Công an viên thị trấn N đến giải quyết. Lúc này, H đi vào trong phòng trọ của mình nhưng vẫn tiếp tục có lời nói chửi bới, xúc phạm anh D như: “thánh họ nhà mày”, “đập chết mẹ luôn đi”…, đồng thời H đã dùng hai chiếc chén sứ ném liên tiếp về phía anh D, còn Long cũng sử dụng chiếc xô nhựa màu xanh trước cửa phòng trọ và chén sứ ném liên tiếp về phía anh D nhưng không trúng. Khi anh Giáp đến yêu cầu Long và H đeo khẩu trang và không được chửi bới nhưng H vẫn tiếp tục chửi bới, thách thức và đe dọa các thành viên tổ phòng chống dịch Covid cộng đồng. Đồng thời, H lấy chiếc ấm pha trà ném trúng vào đùi bên phải anh D. Thấy các đối tượng dùng vũ lực chống đối, anh G gọi điện báo cáo Công an thị trấn N đến lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và báo cáo Công an Huyện V tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã thu giữ các mảnh vỡ và xô nhựa màu xanh. Hồi 06 giờ Ny 09/6/2021, Lê Văn H giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đã bị rạn vỡ, số Imei 1: 869563044777297; số Imei 2: 869563044777289.
Hồi 10 giờ Ny 09/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện V kiểm tra chiếc điện thoại loại Sam sung Galaxy A10S màu xanh có số Imei1 358176102146624, Imei2 358177102146622 của anh Nguyễn Văn D tại mục bộ sưu tập có chứa video dài 05 phút 42 giây ghi nội dung quá trình anh D kiểm tra các đối tượng vi phạm phòng chống dịch Covid 19 tại tổ dân phố N, thị trấn N. Cơ quan điều tra đã sao lưu đoạn video này ra đĩa DVD để phục vụ điều tra. Sau đó Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh của đoạn video đó để Lê Văn H và Lò Văn L nhận dạng, kết quả là các bị cáo đã nhận ra hình ảnh của mình và anh Nguyễn Văn D.
Hồi 13 giờ 30 phút Ny 09/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện V kiểm tra chiếc điện thoại loại Huawei vỏ màu đen có số Imei1 867743046806769, Imei2 8677430408411774 của anh Đỗ Văn Giáp tại mục hình ảnh phát hiện 02 video: 01 vi deo dài 01 phút 52 giây; 01 vi deo dài 01 phút 18 giây ghi lại lời nói hành động của Lê Văn H có lời nói thách thức, đe dọa tấn công anh D thời điểm anh Giáp đến khu vực nhà trọ ông Vũ Văn N, Cơ quan điều tra đã sao lưu đoạn video này ra đĩa DVD để phục vụ điều tra.
Ny 10/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện V tiến hành kiểm tra dấu vết trên thân thể anh Nguyễn Văn D thấy: ở vùng đùi trước chân phải có dấu vết bầm tím kích thước (13 x 8)cm, anh D trình bày vết bầm tím đó do đối tượng Lê Văn H dùng chiếc ấm pha chè bằng gốm ném trúng tạo nên. Do vết thương nhẹ, anh không đi điều trị và từ chối giám định thương tích.
Với nội dung trên, tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 103 Ny 23/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huỵên V đã truy tố các bị cáo Lê Văn H và Lò Văn L về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tại bản án sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang đã tuyên phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn H 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lò Văn Long 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ Ny tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra còn tuyên về án phí và các vấn đề khác.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt lý do chưa áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo là lao động chính, ông ngoại bị cáo là liệt sỹ và xin được giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa bị cáo bổ sung kháng cáo xin hưởng án treo.
* Đại diện VKSND tỉnh B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nội dung kháng cáo của bị cáo nêu ra, đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo tranh luận: Không nhất trí đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị giảm mức hình phạt nhẹ hơn nữa và cho bị cáo hưởng án treo
+ Người bào chữa của bị cáo H tranh luận: Về tội danh, hành vi phạm tội của bị cáo xử tội Chống người thi hành công vụ là đúng, không oan sai, Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ và bị cáo là lao động chính đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị cách ly dài do thiếu thốn về vật chất và bị ức chế khi cán bộ chốt kiểm dịch Covid có lời lẽ làm cho bị cáo không kiểm soát được hành vi, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
+ Bị cáo H: Nhất trí ý kiến của Người bào chữa, không bổ sung gì thêm
- Đại diện VKS đối đáp: Không nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 điều 51 Bộ luạt hình sự. Giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
- Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận: Khoảng 21 giờ 40 phút Ny 08/6/2021, khi được anh Nguyễn Văn D là thành viên tổ Covid cộng đồng kiểm tra, nhắc nhở về việc tự ý đi ra khỏi khu vực đã bị cách ly, không thực hiện đúng quy định về phòng chống dịch. Lê Văn H và Lò Văn L không chấp hành mà còn có lời nói tục tĩu xúc phạm anh D, thách thức tổ công tác. Bị cáo H dùng tay đấm anh D nhưng không trúng, sau đó H còn dùng hai chiếc chén sứ ném về phía anh D nhưng không trúng và cầm chiếc ấm pha trà ném trúng vào đùi bên phải anh D. Bị cáo Long lấy chiếc xô nhựa màu xanh trước cửa phòng trọ và chén sứ ném về phía anh D nhưng không trúng. Khi anh Giáp, anh T đến yêu cầu L và H đeo khẩu trang, không được chửi bới nhưng H vẫn tiếp tục chửi bới, thách thức và đe dọa các thành viên tổ phòng chống dịch Covid cộng đồng. Sau khi được tổ công tác phòng chống Covid báo cáo vụ việc, Công an thị trấn N đã bắt giữ 02 bị cáo và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo Long và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nhận thức được việc làm của mình là trái pháp luật, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330- Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Huyện V truy tố bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo HĐXX thấy:
Án sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm và tính chất, vai trò của bị cáo. Thấy hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19 trên địa bàn Huyện V nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung. Bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo Long trong vụ án này.
. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, Điều 52- Bộ luật hình sự là có căn cứ.
. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò, tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay đã xử phạt bị cáo H mức án 16 tháng là đảm bảo đúng quy định không nặng như kháng cáo của bị cáo
Tại phiên tòa Luật sư của bị cáo xuất trình thêm được tài liệu là xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ và xác nhận bị cáo là lao động chính và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Qua xem xét đề nghị của luật sư bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo thấy: Trong tình hình hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang chung tay chống dịch bệnh Covid, bị cáo không những có những hành động bảo vệ hoặc chung tay chống dịch mà có hành vi chống đối cản trở, gây khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh, gây thương tích cho cán bộ làm nhiệm vụ, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng rất lớn đến việc phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và cộng đồng cả nước nói chung. Do vậy đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có căn cứ. Bị cáo là lao động chính không phải là căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Ông ngoại bị cáo là liệt sỹ do vậy cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo giảm mức án từ 16 tháng xuống còn 15 tháng và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng án treo thấy: Như đã phân tích ở trên, việc xét xử cách ly bị cáo H với đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Việc bị cáo có nộp thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo hay giảm nhẹ hình phạt mà căn cứ vào hành vi và thái độ coi thường pháp luật của bị cáo trong tình hình chống dịch như chống giặc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay cần phải xử nghiêm các phần tử có hành vi chống đối cản trở những người làm nhiệm vụ liên quan đến dịch bệnh covid 19 có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Do vậy không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn H.
. Án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 136- BLTTHS; điểm a, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Ny 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn H 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ Ny tạm giữ 09/6/2021.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d, khoản 1, Điều12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Ny 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3].Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 69/2021/HSST Ny 30/6/2021 của Toà án nhân dân Huyện V, tỉnh Bắc Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ Ny hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - STP Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Thị Hải Hường |